Thái Kim Lan

 

 

Lời mở[3]:

Mừng năm mới, người Việt nam thường có những tục lệ khá thú vị: đưa ông táo về trời, cúng giao thừa rước tổ tiên về ănTết là những lễ nghi không thể thiếu, ngoài thú chơi mai chơi đào c̣n có „thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh“, mừng tuổi và cung chúc tân xuân cho mọi người trong đại gia đ́nh. Sớm mồng một Tết  lễ Phật đầu năm cầu an lành. Nhưng có một tục lệ lạ lùng liên hệ đến“ tâm linh“ có tính tiên đoán huyền bí, ấy là Bói Kiều. Thật ra „Bói Kiều“ khôngchỉ nhằm vào tân niên mà hầu như suốt cả năm, tuy nhiên ngày đầu xuân“ bói Kiều“ trong không khí lạc quan hoan hỉ của sự đoàn tụ gia đ́nh vừa toát lên vẻ  đầm ấm của phúc nhà vừa ẩn dấu nhiều ư nghĩa: bói Kiều cũng như một cuộc thả thơ hay ngâm thơ Kiều được chuyền từ người này sang người kia để t́m cho rơ nghĩa của câu thơ ứng dụng vào một chặn đường đời của từng cá nhân trong tương lai, tính huyền bí pha lẫn với ḷng tin chữ nghĩa trong những câu thơ đẹp không nặng nề u hiển như những thứ bói toán mù mờ, tính linh thiêng tôn giáo không c̣n ư nghĩa siêu việt thăng hoa mà trở nên thực tế tại thế (immanent), cho nên „Bói Kiều“ có thể được xem như  phương pháp chú giải chặm đờ i của mỗi cá nhân cụ thể  vừa thực tiễn vừa thi vị, vừa hiện thực vừa tâm linh.

Tác phẩm "Đoạn trường Tân Thanh“ của Nguyễn Du đă trở thành như một loại „thánh kinh“ cho người dân Việt nam như thế, một loại "Tâm kinh“ rất gần gủi quen thuộc, rất sát với hiện sinh con người sống trong điều kiện giới hạn nội tại của nó và trong khát vọng thực hiện được hạnh phúc qua giải thoát và cứu rỗi. "Bói Kiều“ do đấy không phải là một hành động mê tín, mà là một thử nghiệm thăm ḍ những điều kiện thực chứng cho mỗi đời người, những khả năng „qua cầu đoạn trường“ của cơi người trăm năm.

Trong lịch sử văn chương, có lẽ chưa có một bản  trường ca trữ t́nh nào bỗng hóa thành một hiện tượng „sấm“ truyền hay thánh ca tôn giáo mẫu mực được truyền tụng và kính cẩn "lạy vua Từ hải, lạy vải Giác Duyên, lạy Vương Thúy Kiều xin chứng dám ḷng thành ứng cho một quẻ…“ như tác phẩm của Nguyễn Du trong ḷng người Việt, chống trả lại mọi cấm đoán luân lư khắt khe „đàn ông chớ đọc Phan Trần, đàn bà chớ đọc Thúy Vân Thúy Kiều“.

Từ gợi ư thô sơ này, trong không khí của những ngày sửa soạn đón xuân Việt nam, đoạn thơ trong tác phẩm  - mà khi bói Kiều mọi người đều muốn lật ra trang thơ ấy để được an tâm bắt đầu một năm mới -: đoạn chung cuộc truyện Kiều hay đoạn tái ngộ, đoàn viên giữa Kiều và KimTrọng, giữa Kiều và người thân trong gia đ́nh, trở nên một đề tài đáng suy ngẫm,  một đoạn văn được „người thường“  ước ao trong cuộc đời nhưng lắm lúc bị phê phán trên phương diện nghệ thuật văn chương và  triết lư tư tưởng của Nguyễn Du.

 

Lời nhập:

Triển khai "Ư niệm đoàn viên“ nằm trong đoạn thơ từ câu 2967 đến câu 3254 trong truyện Kiều, ngoài ư hướng „đọc lại“ những vần thơ đẹp trong ánh dương quang "ngày xuân con én đưa thoi“, với nỗi  đồng cảm "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“ về một mùa xuân nối tiếp mùa đông mà „đoàn viên“ là ư niệm của sự nối tiếp ấy, bài viết thử t́m lại ư nghĩa đích thực của đoạn văn này giữa mê hồn trận  những quan điểm khác nhau về nó, cũng như t́m cách lư giải tư tưởng có tính Phật giáo then chốt của Nguyễn Du trong "ư niệm đoàn viên“ như là ư niệm nhân quả toàn vẹn, là cánh cửa mở ra Niết bàn trần thế,  qua đó cho thấy trong thời đại của ông, Nguyễn Du là người đă thâm hiểu và cảm nhận đạo Phật trầm diệu và  uyên bác đến nỗi triết lư đạo Phật dưới ng̣i bút sáng tạo của ông trở nên ḍng tư tưởng Việt nam tuôn chảy linh hoạt và sống động măi đến ngày hôm nay.

 

các điểm chính:

1. Bố cục truyện Kiều:Ư niệm đoàn viên trong cấu trúc của toàn tác phẩm

1.1. Sơ lược cốt chuyện

1.2. Cấu trúc nội dung

1.3. Sơ lược về tư tưởng và những phê phán

 

2. Ư niệm đoàn viên trong 15 năm lưu lạc của nàng Kiều

2.1. Hành trạng khổ đế

2.2. Giấc mộng đoàn viên

 

3. Ư niệm đoàn viên sau 15 năm lưu lạc

.

3.1. "Chết không phải là giải pháp trong đạo Phật và „sống c̣n“ không phải là

tâm thức phong kiến hủ lậu

3.2. "Đoàn viên“ versus „về nhà là về nhà“ của Xuân Diệu

3.2.1. Hai quan điểm dị biệt

3.2.2. Chữ TRINH như „thiện căn ở tại ḷng ta“

 

3.3.  Nét độc sáng của ư niệm đoàn viên trong tư tưởng Nguy ễn Du:

       3.3.1.  nhân quả và ư niệm toàn thể trên trần thế

       3.3.2.  „Con người trần trụi không ngôi thứ“ hay cô gái diếm Thúy Kiều

                  gặp ông quan Kim Trọng.

       3.3.3.  "Tâm ngữ tâm“

 

4. "Mới hay không chữ ấy phân kinh“

.

5. Đoàn viên và  ḥa hợp.„Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên“

 

6. „Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“

 

7. Kết luận.

      

     1. Bố cục truyện Kiều.

 

1.1. Sơ lược cốt chuyện:

Truyện Kiều hay „Đoạn trường tân thanh“ – tác phẩm trường thi độc nhất vô nhị của Nguyễn Du về sáng tạo văn chương 7và tư tưởng -  dựa vào một cuốn tiểu thuyết của  tác giả người TàuThanh tâm tài nhân khoảng thế kỷ thứ 16-17, nói chung, thật là đơn giản: nhân vật chính của câu chuyện là người con gái tài sắc vẹn toàn, Vương Thúy Kiều, sinh trưởng trong một gia đ́nh phong lưu „thường thường bực trung“ vào năm Gia Tĩnh triều Minh (Trung quốc, thế kỷ 16), cùng với em là Thúy Vân và Vương Quang sống trong hạnh phúc gia đ́nh. Tuổi vừa cập kê, trong tiết đạp thanh du xuân tảo mộ nàng gặp một văn nhân phong nhă tài hoa tên Kim Trọng. Hai người gắn bó thề nguyền yêu nhau. Ngay sau đó, Kim Trọng phải về quê chịu tang người chú ruột. Hai người hẹn ḥ chờ đợi nhau. Không may gia đ́nh họ Vương bị kẻ bán tơ vu khống sẽ bị tù đày nếu không có tiền đút lót cho huyện quan. Thúy Kiều t́nh nguyện tự bán ḿnh làm vợ lẻ cho một người tên Mă Giám Sinh để lấy tiền chuộc tội cho cha và em. Không ngờ Mă Giám Sinh và Tú bà là hai kẻ bán phấn buôn hương, mua Kiều về để tiếp khách. Kiều cưỡng lại và cầm dao đă dấu trong người định tự sát nhưng không chết, nàng bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích trong nỗi cô đơn tuyệt vọng. Ước mong tháo cũi sổ lồng ra khỏi nghịch cảnh từ đó đă theo dơi Kiều trong suốt những năm gian truân. Lần đầu tiên gặp Sở Khanh ngỏ ư giúp nàng đi trốn, Kiều vội vàng nghe theo.  Không ngờ đó chỉ là mưu gian của Tú bà để có cớ đánh đập và bắt Kiều phải ra tiếp khách ở thanh lâu. Kiều nỗi tiếng ở lầu xanh làm cho chàng thương gia trẻ Thúc Sinh mê mẩn. Thúc Sinh chuộc nàng ra khỏi lầu xanh và đem vê sống với nhau một năm. Nhưng vợ chàng là Hoạn Thư nổi ghen sai hai tên Ưng Khuyển đốt nhà và bắt sống nàng trong lúc Thúc Sinh lên đường về nhà vợ, theo lời mong muốn của Kiều, mục đích tŕnh bày với Hoạn thư xin cho Kiều làm vợ lẻ. Tại nhà Hoạn Thư, Kiều bị bắt làm nô t́ hầu hạ hai mẹ con Hoạn Thư. Sau khi Thúc Sinh tưởng Kiều đă bị chết thiêu trong trận hỏa hoạn, bèn bỏ cửa hàng trở về với Hoạn Thư th́ gặp lại Kiều đang làm nô t́, nhưng không dám phản kháng. Hoạn Thư bắt Kiều hầu rượu hai vợ chồng theo kiểu nô t́. Đau đớn đến cùng tột Kiều xin đi tu. Hoạn Thư cho phép Kiều ra tu ở am Quan Âm Cát của gia đ́nh. Nhưng sau đó HT ŕnh nghe trộm TS lén gặp Kiều ở Quan Âm cát, Kiều sợ hăi bỏ trốn. Trên đường đi trốn nàng trôi giạt vào một ngôi chùa của văi Giác Duyên và nương náu ở đó. Không lâu có người quen của Hoạn Thư t́m đến, tố cáo chuông khánh mà Kiều đem theo pḥng thân lúc trốn đi là của nhà Hoạn Thư, sợ vạ lây Kiều không thể ở trong chùa, được đưa ra tá túc tại nhà Bạc bà. Tại đây Bạc bà đem Kiều gả cho cho cháu của ḿnh là Bạc hạnh tại Châu Thai. Không ngời nhà họ Bạc cũng thuộc phường thanh lâu. Kiều bị buộc phải tiếp khách làng chơi. Tại đây nàng gặp Từ hải, một tướng giặc chống triều đ́nh. Từ Hải giải thoát Kiều ra khỏi Thanh lâu. Với quyền uy „triều đ́nh riêng một biên thùy“ của ḿnh Từ Hải cho phép Kiều trả oán những người đă thất ước hành hạ nàng và báo ân những người đă giúp nàng. Sống trong sự đùm bọc của Từ Hải được năm năm, Kiều nghe lời của Hồ Tôn Hiến, một tên tổng đốc của triều đ́nh đi dẹp loạn khuyên Từ Hải ra hàng. Từ Hải nghe lời xúi giục của Kiều ra đầu hàng, bị lừa và tử trận. Hồ Tôn Hiến ép gả Kiều cho một thổ quan. Quá tuyệt vọng Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử, đuợc vải Giác Duyên cứu đem về chùa. Về phần Kim Trọng, khi trở về vườn Thúy, nghe tin Kiều đă bán ḿnh v́ hiếu, chàng quá đau khổ, nhất quyết phải t́m cho được Kiều nhưng khi ra đến Lâm thanh là địa danh mà Mă giám Sinh giả trá đưa sai, họ không t́m ra được Kiều v́ thật ra Kiều bị bán về Lâm Chuy, nên cả gia đ́nh hoàn toàn thất lạc tin tức của nàng Kiều. Dù đă cưới Thúy Vân nhưng Kim Trọng vẫn không quên người yêu thuở ban đầu, luôn luôn để tâm ḍ la tin tức, cho đến khi chàng và Vương Quang được phái ra nhận chức tại  Lâm Chuy nghe được tin tức của Kiều. Được cải nhậm sang Nam B́nh, đi qua Hàng Châu được tin Kiều đă trầm ḿnh tại sông Tiền Đường, cả gia đ́nh lập đàn siêu độ cho nàng. T́nh cờ văi Giác Duyên qua đó thấy bài vị đề tên của Kiều, báo tin cho cả gia đ́nh biết Kiêu c̣n sống. Kiều được đón „về nhà“ trong nỗi mừng vui đoàn tụ của mọi người trong gia đ́nh. Đoạn cuối tả cảnh Kiều đàm thoại với người yêu cũ trong đêm tái hợp với những câu thơ được truyền tụng nhiều nhất của bản trường ca "Đoạn trường tân thanh“.[4]

Ngoài những nhân vật sống thực trong truyện, Nguyễn Du xây dựng hồn ma Đạm Tiên, người kỹ nữ mệnh yểu, đă báo mộng cho Kiều ba lần về thân phận của nàng, đánh dấu 3 giai đoạn quyết định của cuộc đời Kiều: giai đoạn thứ nhất báo tin Kiều "nặng nợ má đào“ và tên Kiều nằm trong sổ „đoạn trường“, đoạn thứ hai lúc Kiều lấy dao tự quyên sinh nhưng không chết, Đạm Tiên báo mộng chưa hết nghiệp, đoạn thứ ba lúc Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường thấy Đạm Tiên báo tin nàng đă  hết nghiệp và bắt đầu một cuộc đời mới "duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào“.

 

1. 2.

Tư tưởng nền tảng nằm trong truyện Kiều, nhất là lư thuyết Phật giáo, rồi đến Nho giáo đă được Nguyễn Du đưa vào tác phẩm một cách sáng tạo và thần t́nh đến nỗi người đọc không bao giờ có cảm tưởng đối diện với một người đang gay go triết lư. Lư luận triết học đă được thi hóa và tâm cảm hoá bằng những vần thơ tuyệt hảo đượm vị „đạo trong đời đời trong đạo“ lưu lại trên đầu lưỡi của người đọc và âm vang măi đến đời sau, trở nên „tâm ngữ“ về hiện sinh của con người trên trần thế:

Nhưng cho đến nay, trong lúc văn chương của truyện Kiều đă được đánh giá là „áng văn chương kiệt tác“ vượt hẳn cốt chuyện tầm thường của Thanh Tâm tài nhân qua ngọn bút tài t́nh của Nguyễn Du[5] và tư tưởng trong truyện Kiều thường được xem là sự dung hợp thành công ba yếu tố Nho (thuyết tài mệnh tương đố) - Phật (Lư thuyết nhân quả, nghiệp báo và quan niệm về chữ TÂM) – Lăo (tư tưởng huyền bí)[6], một số nhà phê b́nh cho rằng „giá trị tuyệt đối truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt t́nh cảm của tác giả“, c̣n tư tưởng triết học tôn giáo „giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác“[7], hoặc hơn thế nữa tư tưởng triết học này có nhiều „hạn chế“[8] như Nguyễn Khánh Toàn nhận xét:

„Truyện Kiều là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ rất sâu sắc, tinh vi, với tất cả t́nh tiết của một pho tiểu thuyết, bố cục rất chặt chẽ , nhưng vẫn bảo đảm tính thơ tuyệt diệu…“ Nói rằng Nguyễn Du là một nhà thơ dân tộc vĩ đại, Truyện Kiều là một tác phẩm văn nghệ thiên tài, chúng ta cũng phải thấy những chỗ bị hạn chế, những mâu thuẫn và bế tắc của Nguyễn Du…Những hạn chế của Nguyễn Du trước hết là ở tư tưởng định mệnh…“[9]

 

Bên cạnh việc t́m hiểu "ư niệm đoàn viên“ trong truyện Kiều, bài viết đồng thời sẽ kiểm điểm lại „tính dung hợp tư tưởng“ nói trên và những quan điểm phê phán tư tưởng của Nguyễn Du từ đó đưa tới hệ luận phản thuyết những quan điểm đánh giá tiêu cực vừa nêu ra trong chừng mực khuôn khổ của bài viết cho phép.

Hệ luận phản thuyết này đi từ giả thuyết, nếu truy nhận giá trị truyện Kiều là một kiệt tác độc nhất vô nhị của nền văn học Việt nam cho đến ngày hôm nay, th́ không thể tách rời văn chương và tư tưởng truyện Kiều bằng kết luận có tính khai trừ, cho rằng tư tưởng ấy tầm thường hay giới hạn. Giá trị toàn hảo của tác phẩm Nguyễn Du không thể chỉ nằm trong tính kiệt tác của văn chương, mà c̣n nằm trong tư tưởng mà văn chương ấy chuyển tải, và Nguyễn Du đă không đi vào tâm tư của người Việt, nếu Nguyễn Du chỉ là người người thợ tuyệt xảo của từ chương và không có tư tưởng triết lư sâu sắc.[10]

Khảo sát „ư niệm đoàn viên“ do đấy nằm trong ư hướng, trả lại cho Nguyễn Du gia tài tư tưởng mà ông đă gửi gắm cho người đi sau: Gia tài tư tưởng ấy nằm vỏn vẹn trong một chữ duy nhất: chữ TÂM, trái tim mà nhà thơ đă cảm nghiệm và muốn trao lại cho đời sau là một trái tim nh́n "vạn pháp thảy đều là tâm“, linh thiêng hay trần thế chỉ nằm ở một chữ TÂM "Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu“.

 

1.2. Cấu trúc nội dung.

 

Tuy chỉ gồm có 287 câu so với toàn thể 3254 câu thơ, nhưng xét trên phương diện cấu trúc nội dung tư tưởng trường ca này, "ư niệm đoàn viên“ trong truyện Kiều trước hết có thể xem là một phản đề làm nên yếu tố cơ cấu tạo ra âm điệu, âm giai, cung bậc "mới“ ("Tân thanh“) trong nỗi đau đứt ruột (đoạn trường) của nàng Kiều. Bên cạnh ngôn ngữ thi ca của thiên tài họ Nguyễn làm nên vẻ đẹp văn chương vô tiến khoáng hậu của truyện Kiều, chính ư niệm này theo cách tŕnh bày và lư giải của Nguyễn Du đă cho nội dung của câu chuyện một nét tân kỳ, mới mẻ, từ đó nâng câu chuyện vượt bực trên b́nh diện  tư duy đặc thù Việt nam so với tŕnh độ tầm thường trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài nhân.

Phản đề (antithesis, antithese) "đoàn viên“ nằm chính trong tương quan với đề án (thesis, these) "cuộc bể dâu“ với "những điều trông thấy mà đau đớn ḷng“ trong giới hạn "trăm năm trong cơi người ta“ và trong hữu hạn "chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau“. Khởi đầu lấy hai chữ "TÀI-MỆNH“ trong đời người làm tiền đề dựa vào tư tưởng truyền thống cổ kim, Nguyễn Du kết thúc câu chuyện cũng với hai chữ „TÀI - MỆNH“ trong thế đối nghịch với tiền đề:

 

"Có tài mà cậy chi tài

Chữ tài đi với chữ tai một vần

Đă mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại ḷng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.[11]

 

Không chỉ là văn phong "khởi thúc đắc pháp“, lung kết chặc chẽ như Trần Trọng Kim nhận xét, mà chính v́ tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Du "đem TÂM đối lại TÀI và bù đắp cho TÀI“ đă được dụng tâm ngay từ trong bố cục của toàn tác phẩm, bởi lẽ chính chữ TÂM là điều kiện có thể xây dựng "đoàn viên“ trong "đạo làm người“ theo nhà thơ họ Nguyễn. Dùng chữ „TÂM“ – trong truyền thống Thiền học Việt nam mà Nguyễn Du đă tẩm đượm, miệt mài „kinh ḷng hằng đọc“ - để "sửa“ chữ TÀI - MỆnh của Nho giáo– nhà thơ họ Nguyễn đă xây dựng "Đoạn truờng tân thanh“ bằng một cái nh́n bản thể sâu và rộng, từ đó thi ca của ông có thể bắt kịp được tấm ḷng của mọi con người.

Nh́n tổng quan như thế, có thể nói không một chút ngạc nhiên hay do dự hoặc cường điệu rằng: Với đề án "Nỗi đau đứt ruột“ của người đàn bà tài sắc song toàn nhưng lại "tài hoa mệnh bạc“, lại "mang lấy một chữ t́nh“ và phản đề  đoàn viên "hoa tàn mà lại thêm tươi, trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa“ Nguyễn Du đă sử dụng cái khung giáo lư Phật giáo tứ diệu đế“ để thực hiện bản trường ca "Đoạn trường tân thanh“ một cách sáng tạo: nếu câu chuyện 15 năm lưu lạc giang hồ của nàng Kiều từ khi „bán ḿnh chuộc cha“, 'thanh lâu hai lượt thanh y hai lần“ cho đến khi trầm ḿnh ở sông Tiền Đường là một thực chứng thấu đáo của hai diệu đế đầu "khổ và tập khổ“, th́ cuộc đoàn tụ gia đ́nh và tái ngộ người yêu thuở ban đầu là cơ hội diệt khổ của nàng Kiều, là cơ hội sự thực hiện giải phóng khổ đau toàn diện nằm trong hai diệu đế sau „diệt và đạo“ như vế đối hay vế đóng cho hai vế đầu.

Nguyễn Du đă không ngờ chưa đầy hai trăm năm sau, có người ở phương trời Tây cũng nương theo cuộc hành tŕnh giải phóng khổ nạn của Siddhartha làm nên một tuyệt phẩm trong lịch sử văn chương Đức: H. Hesse cũng đă lấy tứ diệu đế để làm bố cục cho bài thơ xứ Ấn "Câu chuyện gịng sông“[12] của ông. Trong chừng mực nhất định, có lẽ hai nhà thơ đă gặp nhau ở cái nh́n quán triệt về giáo lư đạo Phật: cặp khái niệm nhị nguyên phải được nh́n trong cái toàn thể của nó: khổ tận-cam lai, khổ và diệt khổ không xa rời nhau, điạ ngục trấn gian và niết bàn tại thế trong cùng một đời người.

Có thể nói Nguyễn Du đă hiểu tính nhất quán của lư thuyết Phật giáo ngay chính trong bố cục của "Đoạn trường tân thanh“. So với lối nh́n Phật giáo phiến diện như một triết lư bi quan yếm thế của thời ông và vẫn c̣n tồn tại khắc khoải cho đến ngày nay trong tâm thức của nhiều người, Nguyễn Du đă có cái nh́n "kiến tính“ tân kỳ của của cả nền văn học Bát nhă (với Long Thọ) và Thiền học (với Huệ Năng), thêm vào đó nhuần nhuyễn truyền thống Thiền vị Việt nam: "ư niệm đoàn viên“ được xây dựng sáng tạo như „đêm qua sân trước một nhành mai“ của thiền sư Măn Giác, như một mùa xuân mới bừng nở, được phát hoạ bằng chữ "Tâm“ con người "Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu“ (Linh Sơn chỉ ở ḷng người thôi): Khái niệm „Tân thanh“ trong "Đoạn trường tân thanh“ có thể nói là lời phát ngôn của tâm thức tẩm đượm tinh thần Phật giáo của một Nguyễn Du đă từng ngh́n lần đọc kinh Kim Cương, [13] chợt ngộ trong

khoảnh khắc bất ngờ trước tảng đá phân kinh:

 

"Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn

Thuyết pháp độ nhân như hằng hà sa số

Nhân liễu thử tâm nhân tự độ

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu

Minh kính diệc phi đài

Bồ đề bản vô thụ

Ngă độc Kim cương thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo phân kinh thạch đài hạ

Tái tri vô tự thị chân kinh“.

(Ta nghe Linh Sơn đức Phật tổ

Thuyết pháp độ người như hằng hà sa số

Người tu được tâm độ ấy rồi

Linh Sơn chỉ ở ḷng người thôi!

Chẳng có đài gương sáng

Chẳng có cây Bồ đề

Ta đọc Kim cương trên ngh́n lượt

Lắm điều sâu kín hiểu không rành

Đài đá phân kinh nay được đến

          Mới hay „không chữ ấy phân kinh“)[14]

 

Giây phút giác ngộ mà Nguyễn Du bắt gặp cũng là giây phút bừng nở hạnh từ bi, hàng tâm theo Phật "thuyết pháp độ nhân như hằng hà sa số“, từ đó phát tâm lân cảm vô hạn với nỗi đọa đày "đau đớn thay phận đàn bà“ trong thiên trường ca bất hủ vượt thời gian.

Suy nghĩ về chỗ đứng cơ cấu của ư niệm "đoàn viên trong truyện Kiều“, như một yếu tố nội dung mới của „Đoạn trường tân thanh“ cho ta liên tưởng đến đề tài của một cuốn phim mới đây rất nỗi tiếng của đạo diễn Đại hàn liên hệ đến bài kinh Bát Nhă: "Xuân, hạ, thu, đông, xuân…“[15] chính chữ "xuân“ thứ hai nói lên được cách hiểu kinh Bát Nhă của người đạo diễn. Không phải sự tuần hoàn vô thường của bốn mùa chấm dứt ở mùa đông là phù hợp với lư thuyết Phật giáo, ngược lại phải nh́n sự vô thường trong viễn tượng của một mùa xuân lại về: „đừng nói xuân tàn hoa rụng măi“ mới là „chính kiến“ trong tư thế giải thoát, viên măn, giác ngộ cuộc hành tŕnh luân hồi, thể nhập vào cuộc đời với một tâm thức „mai nở“, "vô hữu khủng bố, thoát ly điên đảo mộng tưởng“. Sáng tạo của nhà thơ 'Đoạn trường tân thanh“ và của người đạo diễn khởi sự trong Cái Nh́n (kiến tính) thấu triệt bát nhă: có một mùa xuân muôn đời trong sự đổi thay vô thường: Vườn xuân một cửa, để bia muôn đời[16]     

Chính nằm trong truyền thống tư tưởng này, ư niệm đoàn viên nên được đánh giá khác với những quan điểm phê phán thường có về đoạn cuối của truyện Kiều, mà Cao Huy Đỉnh trong bài viết của ông "Triết lư Phật giáo trong truyện Kiều“ mặc dù đă lấy quan điểm phê phán tiêu cực về tinh thần Phật giáo trong truyện Kiều và hiểu sai phần nào khái niệm về  "nghiệp“ và "tâm“ trong Phật giáo[17] cũng đă thừa nhận:

"… nhờ thế mới có cái hậu của truyện Kiều. Cái hậu ấy là sự sum họp với những người nàng yêu nhất trên trần thế, chứ không phải là việc hưởng quả báu tốt ở thiên đường: 

"C̣n nhiều hưởng thụ về sau ,

Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào!

Cái hậu này chính là ḷng mong mỏi của dân lành, đau khổ muốn được hưởng hạnh phúc cụ thể ngay trên trần thế này. Thật là sai lầm khi chúng ta theo con mắt "lo gích“ "duy lư“ của người phương tây mà chê bai rằng cái hậu ấy trong tác phẩm cổ điển phương đông là "công thức“, là "tuổi ấu trĩ của văn học“[18]

 

Thảo luận những quan điểm khác biệt về cái hậu“ của truyện Kiều sẽ được đề cập đến trong phần triển khai ư nghĩa „đoàn viên“ trong điểm 3.

Ta hăy thử xét lại 

   

  1. 15 năm lưu lạc của nàng Kiều như là thực chứng của „khổ đế và tập đế“.

 

2. 1. Hành trạng khổ đế: Khởi điểm của nỗi khổ là chia ly:

Có thể nói trong lịch sử văn chương mang tính Phật giáo, ngoài Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều vv… Nguyễn Du là tác giả diễn đạt tận t́nh và tài t́nh nỗi khổ của con người hiện thân trong nhân vật "Thúy Kiều“. Cuộc đời „phong gấm rủ là“ được gia đ́nh che chở chỉ trong khoảnh khắc v́ nạn thằng bán tơ và quan quyền vô lại hà hiếp dân lành, chỉ biết ăn tiền hối lộ[19], vinh thân ph́ da, trở nên cuộc chia ly đau đớn sau khi chọn lựa giữa t́nh và hiếu nàng tự quyết định ẽ cho để thiếp bán ḿnh chuộc cha“, phút chốc „tan tác như hoa giữa đường“. Hạnh phúc của mối t́nh đầu chưa hưởng trọn th́ đă bị tan vỡ, chia tay với chàng Kim rồi xa nhau măi măi trên bước đường giang hồ bị bắt buộc phải „đưa người cửa trước rước người cửa sau“. Mối sầu chia ly trở nên nỗi đọa đày thân xác và tâm hồn nàng Kiều trong suốt 15 năm:

Mối t́nh đầu vừa hé cánh cửa cho người con gái thấy cơi hạnh như chốn "động đào“, tràn đầy yêu thương và hi vọng của miền đất phúc "thiên thai“, với nỗi gắn bó „song song hai miệng một lời đinh ninh“ trước „vầng trăng vằng vặc“ tưởng sẽ được trăm năm ghi tạc "chữ đồng đến xương“, bỗng chốc trở thành "một ngày nặng gánh tương tư một ngày“

 

Ngại ngùng một bước một xa,

Một lời trân trọng châu sa mấy hàng

Buộc yên quảy gánh vội vàng

Mối sầu xẻ nửa bước đường chia hai

Buồn trông phong cảnh quê người

Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa

Năo người cử gió tuần mưa,

Một ngày nặng gánh tương tư một ngày…

 

Nỗi sầu chia tay người yêu c̣n nức nở chưa dứt, liền tiếp ngay sự thảm khốc phải chia tay cha mẹ, rời khỏi tổ ấm gia đ́nh, bán thân làm vợ lẻ cho một người xa lạ để cứu cha em khỏi cơn hoạn nạn:

 

Đau ḷng kẻ ở người đi

Lệ rơi thấm áo, tơ chia rủ tằm…

 Xót con ḷng nặng chề chề

trước xe ông đă nằn ń thấp cao,

Chút thân liễu yếu tơ đào

Dớp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi

Từ đây góc bể chân trời

Nắng mưa thui thủi, quê người một thân…

 

Bơ vơ làm cho nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhớ gia đ́nh ngùn cao hơn núi:

 

Đùng đùng gió dục mây vần,

Một xe trong cơi hồng trần như bay,

         Trông vời gạt lệ phân tay,

Góc trời thăm thẵm, ngày ngày đăm đăm…

          Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,

Thấy trăng mà thẹn những lời non sông

Rừng thu từng biếc chen hồng,

Nghe chim như nhắc tấm ḷng thần hôn

 

2.2. Giấc mộng đoàn viên trở nên một bản ngă thứ hai của nàng Kiều:

 

'Tấm ḷng thần hôn“ ấy dần dần kết tinh thành một tâm thức hoài vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đ́nh, với người t́nh ban đầu trên bước đường „bèo trôi sóng vỗ“, nơi nước non lạ lùng và nhất là trong cơi địa ngục ở miền dương gian, trong đó tha nhân chính là địa ngục ấy: Mă Giám Sinh nước trước bẻ hoa, Tú bà bắt ra tiếp khách, tự vẫn bằng dao không chết, bị Sở Khanh lường gạt, bị Tú bà hành hạ phải ra thanh lâu tiếp khách. Nỗi nhớ người thân trở nên những mộng tưởng ban ngày: 

           

               Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

     Tin sương luống những rày trông mai chờ

     Chân trời góc bể bơ vơ,

     Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

               Xót người tựa cửa hôm mai

     Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.

 

Trên bước đường phiêu bạt lênh đênh, đau thương, tưởng nhớ, xót xa dần dần qui kết thành nỗi nhớ nhà mà Lư Bạch gọi là "cố viên t́nh“, mối t́nh nhớ đường xưa lối cũ mà kẻ đi xa trong vô thức đă mang lấy trong tim, trong trường hợp của nàng Kiều nỗi nhớ ấy đậm đặc đến trở thành ám ảnh:  

 

Nỗi ḷng đ̣i đoạn xa gần

Chẳng ṿ mà rối chẳng dần mà đau

Nhớ ơn chín chữ cao sâu

Một ngày một ngă bóng dâu tà tà

Dặm ngàn nước thẳm non xa

Nghĩ đâu thân phận con ra thế này…

Nhớ lời nguyện ước ba sinh

Xa xôi ai có thấu t́nh chăng ai

Khi về hỏi liễu chưong đài…

 

Những cơn nhớ ngất lịm người như thế dần dà tạo nên một thứ áo giáp pḥng thủ cho con người đang bị tha nhân độc ác lường gạt, đang bị hoàn cảnh xă hội cay độc đoạ đày, một tâm thức hoài vọng khát khao nhớ về kỷ niệm xưa như một an ủi cho thân phận trong hoàn cảnh đang trải qua. Giấc hương quan trở nên một hiện tượng thường nhật ngày đêm, đi ngược với hiện trạng thực tại. Trong tâm trạng "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“, nàng Kiều trong mỗi hoàn cảnh bên ngoài đành phải"vui là vui gượng kẻo mà“, trong lúc bên trong là cả nỗi nhớ "đ̣i đoạn ṿ tơ“ triền miên trong "giấc hương quan“

 

Nỗi ḷng đ̣i đoạn ṿ tơ

Giấc hương quan luống lần mơ canh dài

 

Giấc hương quan hay giấc mộng cố hương trở nên một ám ảnh không nguôi cho nàng Kiều, „song sa ṿ vơ chân trời“, càng đau khổ càng bị oan nghiệt giữa chợ đời, nàng càng không thể quên hạnh phúc gia đ́nh thân yêu, hạnh phúc của t́nh yêu ban đầu như một vừng trăng bị xẻ làm đôi.

Vàng trăng bị xẻ làm đôi cũng chính là nhân cách của Kiều bị xé làm hai mảnh mà Nguyễn Du đă theo dơi suốt cả 15 năm lênh đênh: tấm thảm kịch đă phân thân nàng Kiều hồn ĺa khỏi xác: một tấm thân đem ra để „trả nợ đời“, như chính Kiều trong nhiều cảnh huống đă phản tỉnh về chính thân xác của ḿnh „tấm thân đày đọa vũng lầy“. Tuy là thân của cha mẹ sinh thành, nhưng con người không tự ḿnh ấn định sự tại thế trên cơi đời mà Nguyễn Du gọi là „trời bắt làm người phải thân“, con người không quyết định sự hiện hữu của ḿnh, tấm thân là dấu hiệu của „nghiệp nhân“, từ thân nghiệp ấy chính con người lại là kẻ chịu trách nhiệm về hành trạng của ḿnh. Nhưng đây cũng là mối thương tâm xé ruột: sau bao lần phản kháng, cánh hoa yếu đuối „một phen mưa gió tan tành một phen“ đành trả lời mụ Tú bà:

 

"Nàng rằng mưa gió dập d́u

Liều thân,  th́ cũng phải liều thế thôi“

 

Ngoài mặt nói liều nhưng trong ḷng „ đ̣i cơn“ đau đớn ê chề. Tấm thân ấy từ đây không phụ thuộc vào nàng nữa, đă trở nên vong thân dưới ng̣i bút lân cảm của Nguyễn Du. Trong hơn hai ngh́n câu thơ, trong những hoàn cảnh đau thuơng nhất, vẫn là tấm thân ấy trở nên đối tượng của chính cái hồn đang giữ một khoảng cách với nó.

Từ: „thương thay thân phận lạc loài“ rồi „thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh“ cho đến „khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật ḿnh ḿnh lại thương ḿnh xót xa“… đến nỗi kinh sợ không t́m thấy chính ḿnh trong thân xác của ḿnh, ḿnh tự từ chối nhân diện hiện tại  của ḿnh:

"Mặt sao dày gió dạn sương

Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân…“

 

Tấm hồng nhan ấy qua „cái thân liệu những từ nhà liệu đi“, đă đầu hàng áp lực xă hội con người nên "đành thân cát dập sóng vùi“, bị đày "vào kiếp phong trần“.

 

Đă cho lấy chữ hồng nhan

Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân

Đă đày vào kiếp phong trần

Sao cho sĩ nhục một lần mới thôi.

 

Kiều không chỉ bị sĩ nhục một lần mà quá nhiều lần, hết  Mă Giám sinh,Tú bà, đến Hoạn thư cùng bọn Ưng Khuyển, hết Hoạn thư đến Bạc bà Bạc Hạnh, rồi đến Hồ Tôn Hiến ngụy quân tử.. Đă bao lần nàng cố t́m cách thoát khỏi cảnh tủi nhục đọa đày, cũng bấy nhiêu lần nàng bị tha nhân vùi dập „chim lồng không thể cất  ḿnh bay cao“.

 

Biết thân chạy chẳng khỏi trời

Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh.

 

Trong t́nh trạng nhân diện đào hoa vỡ  tung „ngọc nát hoa tan“, giữa hai lần tuyệt vọng  (lần thứ nhất bị Tú bà bắt ra tiếp khách) đến độ t́m cách kết liễu tấm thân sắp và đă bị ô nhục, Nguyễn Du đă cho nhân vật của ḿnh "sống c̣n“ trong những giấc mộng hoài hương như nơi trú ẩn cho tâm hồn.  Nỗi nhớ xót xa nhưng cũng là ân sủng trong những ngày phiêu bạt, đă theo Kiều như bóng với h́nh, đă ǵn giữ vết son như một nét trung thực của tâm hồn : ngày mới ra đi là khởi sự của "tấm ḷng thần hôn“, lúc bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích nỗi nhớ là „tấm trăng gần ở chung“ đưa nàng về với "người duới nguyệt, chén đồng“, với kỷ niệm ấm cúng cùng với cha mẹ qua ngày nắng ngày mưa.  

Trong tâm trạng „người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“, tâm thức nàng trong mỗi chặn đời thường vượt lên tấm thân mang nặng những nỗi bất bằng, mà Nguyễn Du đă dùng h́nh ảnh "đám mây“: „hồn quê theo ngọn mây Tần“, „ḷng c̣n gửi đám mây Hàng“, "bốn phương mây trắng một màu“ như một biểu tượng h́nh nhi thượng đầy tâm cảm bao trùm thái độ khước từ hoàn cảnh hiện tại trầm kha tàn phá nội tâm:

 

Mặc người mưa Sở mây Tần

Những ḿnh nào biết có xuân là ǵ

Thờ ơ gió trúc mưa mai,

Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân.

 

Chính những đám mây quê hương trong mỗi chặn đường đời, ngay cả khi có đôi chút hạnh phúc với Thúc Sinh hay lúc vinh quang với Từ Hải, luôn luôn bồng bềnh khát vọng đoàn viên của một người con gái ăm ắp chữ t́nh, chữ hiếu, chữ thương, đă trở nên những động cơ vô thức, mang con người ấy cố gắng vượt qua những cạm bẫy trong những năm phiêu bạc giang hồ. Những cố gắng đến từ cảm tính của một người đàn bà nghiêng về T̀NH hơn là LƯ- đa t́nh khổ lụy – trong suốt truyện Kiều thường bị thất bại càng làm tăng tấm bi kịch lên đến cao độ. Nhưng ngay cả  giây phút tuyệt vọng nhất về thân phận của ḿnh „thân sao thân đến thế này, c̣n ngày nào cũng dư ngày ấy thôi“ đưa đến quyết định trầm ḿnh tại sông Tiền Đường, th́ khát vọng ấy dù vô vọng, không những theo thuyết luân hồi là điều kiện tái sinh, tái hợp quay ṿng qua bàn tay cứu độ của Giác Duyên, mà c̣n – như Xuân Diệu nhận xét không sai trong trựng hợp này – "do sức nội tại, thế nội tại của nhân vật và sự việc“, khát vọng ấy[20] đă là một yếu tố nội dung không thể thiếu trong tư tưởng truyện Kiều.

Có thể nói khát vọng đoàn viên đă tạo nên một linh hồn thứ hai của nàng Kiều, đă góp phần vào phẩm chất „thanh cao“ của cá tính nhân vật trong thế tương phản hay "xung đột“ với nửa  phần người dày dạn "phong trần“ kia.

Chính trong tương quan xung đột, mâu thuẫn giữa „bắt phong trần phải phong trần“ mà đó là thể xác, và „cho thanh cao mới được phần thanh cao“ mà đó là cái „tâm“, với thi ca sáng tạo của ông, Nguyễn Du đă làm nhân vật Thúy Kiều trở nên bất tử trên phương diện nghệ thuật văn chương, kịch tính, tâm lư nhân vật, và không phải là điểm cuối, ngay cả trên tư tưởng như là linh khí của lời thơ.       

 

2.3.  Tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm Truyện Kiều nằm trong lư thuyết nhân quả của Phậtgiáo, điều này không c̣n ngờ, như Trần trọng Kim, Đào Duy Anh, Nguyễn Đăng Thục và ngay cả Cao huy Đỉnh, Trần Văn Giàu và Hoàng Ngọc Hiến[21]  đều đă nhận định và công nhận dù cách diễn giải đến từ những quan điểm khác nhau -

 

Trong lúc Trần Trọng Kim cho rằng Nguyễn Du đă ứng dụng „lư thuyết nhân quả phổ thông“ làm tông chỉ cho tư tưởng trong truyện Kiều: „Nhân nào quả ấy, hết quả này lại đeo cái nhân đă gây nên mà có cái quả khác. Nhân tốt th́ quả tốt, nhân xấu th́ quả xấu, cứ luân chuyển măi như thế trong cơi hồng trần…Theo cái lư thuyết ấy, th́ phàm phúc hay họa là ở tự ḿnh gây ra cho ḿnh. Ḿnh đă có cái hoàn toàn tự do mà làm việc thiện hay việc ác, th́ ḿnh lại có hoàn toàn trách nhiệm về những việc ấy“[22]

Trần Trọng Kim đă nhận định đúng khi cho rằng lư thuyết nhân quả và nghiệp khác với lư thuyết định mệnh ở điểm lư thuyết ấy dành cho con người „hoàn toàn tự do. Ḿnh phải theo cái nghiệp tự ḿnh gây ra cho ḿnh, chứ không phải là cái nghiệp tự đâu gây ra mà bắt ḿnh phải chịu“[23]  … „Cái thuyết nhân quả của phật học là thế. Đem cái thuyết ấy mà so với một đời nàng Kiều, th́ thấy không chỗ nào là không đúng…“[24]

Ngược lại với TTK, các học giả Trần Văn Giàu, Nguyễn Khánh Toàn, Cao Huy Đỉnh, Hoàng Ngọc Hiến đều nhận định „ư thức hệ“ Nguyễn Du có hạn chế, chính v́ Nguyễn Du đă bị ảnh hưỏng của lư thuyết nhân quả, "tài mệnh tương đố“, "bỉ sắc tư phong“.

Theo TVG: „Nguyễn Du từng lúc mang nặng ảnh hưởng Phật giáo, cũng như ông luôn luôn mang nặng ảnh hưởng Nho giáo. Hạn chế đó khá nghiêm trọng…triết lư..h́nh thức, vướng víu“[25].

Theo HNH: "Tư tưởng "nhân quả“ khẳng định quan hệ nhân quả giữa kiếp này và kiếp trước, kiếp sau. Nội dung h́nh tượng Truyện Kiều chỉ nói về kiếp này của nàng Kiều. Như vậy, quan hệ „nhân quả“ không được bộc lộ ở ngay nội dung của tác phẩm. Đó là một quan hệ không có nội dung…Như vậy trong truyện Kiều, triết lư Phật giáo là ngôn ngữ Phật giáo, là những lời giải thích nhưng không phải phải là ư nghĩa đích thực của nội dung h́nh tượng tác phẩm…Triết lư của Nguyễn Du quả là không tương xứng với tác phẩm thiên tài của Nguyễn Du.“[26]

Cao Huy Đỉnh cho rằng „chất bi quan yếm thế“ của truyện Kiều đến từ „cái khối thế giới quan tiêu cực hỗn hợp ấy của truyện Kiều“, trong đó "triết lư Phật chiếm một liều lượng lớn, v́ chất bi quan yếm thế của nó dễ diễn tả nhất những nỗi day dứt siêu h́nh ở trong tâm trạng con người, nhất là phụ nữ, nạn nhân cực khổ nhất của xă hội phong kiến….ĐạoPhật đă bổ sung cho đạo Nho ở chỗ nó dựa trên luật nhân quả để kết án cá nhân là tự ḿnh gieo cái mầm khổ cho ḿnh ngay từ kiếp trước nên tự ḿnh phải chịu lấy quả khổ của kiếp này…“[27].

Chữ „nghiệp đă được ông hiểu như sau: „Chữ nghiệp mê muội và an ủi tâm hồn quả đă hấp dẫn được ḷng người đang sợ hăi cái thực tại đầy đau thươngvà đă thổi thêm luồng gió bi quan vào trong cơn băo táp của thời đại Nguyễn Du và trong Truyện Kiều.“[28]

 

Nếu đọc kỹ toàn bộ truyện Kiều và nhất là đoạn cuối, ta có thể thấy rơ, không phải tư tưởng triết lư Nguyễn Du bị hạn chế - trong nghĩa của các nhà phê b́nh kể trên là Nguyễn Du đă chưa thu nhận ư thức hệ mác xít - mà chính tư tưởng của những nhà phê b́nh Nguyễn Du thật sự bị hạn chế, nếu không nói là „hạn chế khá nghiêm trọng“ do cái khung đóng kín giáo điều của chính ư thức hệ duy vật biện chứng lịch sử cũng như đường lối xă hội chủ nghĩa.

 

-         Hạn chế thứ nhất là họ đă hiểu sai quan niệm nhân quả và khái niệm nghiệp báo. Theo lư thuyết đạo Phật, lư thuyết nhân quả không chỉ là „kiếp này kiếp trước“ –( ngay ở đây chính Trần Trọng Kim, mặc dù đă công nhận bản chất triết lư của Truyện Kiều đến từ đạo Phật, cũng chỉ dựa vào quan niệm nhân quả phổ thông về kiếp trước kiếp sau, tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh quan niệm về chữ nghiệp phức tạp hơn nhiều) -  lư thuyết nhân quả phải được hiểu trên nền tảng thể tính học của Phật giáo với ư niệm „vô thường“ (anicca) hay „thể tính biến đổi, trở thành“ (Werden, devenir, become) của vạn vật. Trên nền tảng ấy, tương quan „nhân quả“ xảy ra trong từng sát na một của hiện tại, của „kiếp này“. Trong đời của nàng Kiều, nói tổng quát, tương quan nhân quả ấy nằm trong câu „c̣n nhiều hưởng thụ về sau“. Chữ „về sau“ như ư niệm tiếp theo – cái này có đẩy theo cái kia có – trong truyện Kiều chỉ cuộc đời hiện tại của Kiều nằm trong tương quan „trước sau“ trên ba b́nh diện: - đời trước đời sau trên b́nh diện vũ trụ luận, trả nghiệp và chuyển nghiệp trong hiện tại „Duyên xưa đầy đặn phúc sau dồi dào“ trên b́nh diện thể tính luận và „xưa nay sầu thảm nay sao vui vầy“ trên b́nh diện tâm lư học.

 

-         Hạn chế thứ hai là khái niệm „nghiệp“ đă bị giản lược vào ư nghĩa thụ động và yếm thế, trong lúc khái niệm này ngược lại nói lên khả năng tác động của con người trong liên hệ nhân quả, như Trần Trọng Kim nhận xét, khác với thuyết định mệnh, chính con người tạo nghiệp,  chứ không phải „tự kết án ḿnh“, cho nên chính con người chịu trách nhiệm về hành động của ḿnh, đồng thời chính con người có thể sửa đổi nghiệp và  tạo nhân mới cho ḿnh, con người có tự do trong hành động chứ không bị ràng buộc bởi định mệnh. Viễn tượng chuyển đổi nghiệp ác sang nghiệp lành cho thấy thái độ lạc quan và tích cực của triết lư Phật giáo, mà Nguyễn Du đă thi ca hoá trong trong đoạn cuối„ư niệm đoàn viên“, trong lúc ở đoạn đầu ông đă đặt viên đá „cải nghiệp“ qua hành động quyết định hi sinh v́ chữ hiếu „dẽ cho để thiếp bán ḿnh chuộc cha“của nàng Kiều. Cho dù với hành động đó cuộc đời lưu lạc giang hồ của nàng Kiều bắt đầu, nhưng „hiếu tâm“ của nàng đă

       trở nên một trong những điều kiện cho „phúc sau dồi dào“.

 

-         Cũng ngược lại với một số quan điểm nh́n từ góc độ tu chứng Phật giáo cho rằng trong truyện Kiều Nguyễn Du đă hiểu sai đạo Phật, đă để cho nhân vật của ḿnh „vận“ vào người những oan trái không đâu : thấy mồ Đạm Tiên đă than khóc : „Thấy người nằm đó biết sau thế nào“, thấy Kim Trọng đă vương vấn yêu thương „Người đâu gặp gỡ làm chi.“, v́ đa t́nh cho nên gây vướng lụy,  vướng lụy gây nên những khúc đoạn trường. Ngược lại với quan điểm ấy có thể nói rằng Nguyễn Du đă chứng tỏ sự thông triệt triết lư đạo Phật trong việc xử dụng một cách tài t́nh cuộc đời gian truân cùng cực của nàng Kiều như một thí dụ cụ thể về hiện sinh của đời người và khả thể giác ngộ của con người.  Lư thuyết nhân quả và thập nhị nhân duyên theo hệ thống triết học bát nhă, nhất là của phái Không Luận của ngài Long Thọ liên hệ với quan điểm đạo đức học cho người cư sĩ thường tục có thể xem là nền tảng tư duy cơ bản của truyện Kiều. Theo phái Không Luận lư thuyết nhân quả nằm trên b́nh diện chân lư tương đối (cái này là điều kiện của cái kia) trong viễn tượng tuyệt đối của Tính Không (vô điều kiện). Chính điều kiện tính triệt để của thuyết nhân quả cho ta liễu ngộ được tính không của các Pháp, liễu ngộ được triệt để điều kiện tính do đấy là cánh cửa giải thoát, mở ra viễn tượng Niết bàn, là nền tảng thể tính (ontologische Grundlage) cho mọi hành động đạo đức, có nghĩa là tạo nên lư do hiện hữu cho hạnh từ bi cứu độ chúng sinh, thực hiện giải phóng khỏi bờ mê. Với thân phận đọa đày của nàng Kiều, và cùng với nhân vật của ḿnh Nguyễn Du đă thực chứng trọn vẹn được ư nghĩa của khổ đế và tập đế trong đạo Phật: chưa bao giờ điều kiện hiện sinh khách quan (xă hôi) và chủ quan (có tài) của con người Kiều được mô tả trong tất cả sự sinh động của thi ca, đến nỗi không những người „trong cuộc“ mà người „ngoài cuộc“ cũng đau đớn ḷng và cảm nghiệm như chính ḿnh cũng ở trong bể trấm luân đan chéo với „chữ t́nh“, „khư khư ḿnh buộc lấy ḿnh vào trong“, mà  cùng khóc, cùng cười với „chữ t́nh“, cùng cảm nghiệm và cùng thấu hiểu nỗi khổ do nghiệp chướng của „khư khư“, của chấp nê tạo nên.  Đắm ch́m trong thân phận ấy, con người có thể có hai thái độ, như Kiều đă có: tuyệt vọng phẫn uất và khao khát được giải thoát, t́m mọi cách để giải thoát. Chính v́ đi đến tận cùng của cái khổ, con người mới khát khao sự diệt khổ. Diệt khổ có nguyên nhân đă nằm sẵn trong „chân lư“ đời là bể khổ, chứ không nằm ở một thế lực nào khác. Trong ư nghĩa ấy, bị đoạ đày và mong ước giải thoát trên phương diện triết lư và tu chứng cùng nằm trên một b́nh diện và cùng trong hiện tại; đồng thời đạo Phật cũng nhấn mạnh, đời người trăm năm là mảnh đất tốt nhất để thực hiện giải phóng, đạt giác ngộ.

      Phải qua cảnh khổ, ư nghĩa tất yếu của giác ngộ mới được con người thấu triệt trọn vẹn.

Có thể nói trong đoạn cuối của truyện Kiều, Nguyễn Du đă đưa ra một viễn tượng giải phóng rất mới qua ư niệm đoàn viên, mới hơn tất cả những liễu tri Phật giáo về giác ngộ trong thời đại của chúng ta hôm nay, những kẻ đă được Nguyễn Du nhắn gửi sau „ba trăm năm…“

Ta hăy xét từng điểm một:

 

  1. Ư niệm đoàn viên sau 15 năm lưu lạc.

3.1. Chết không phải là giải pháp cuối cùng và "sống c̣n“ hay "tái sinh“ không phải là tâm thức phong kiến hủ lậu.

 

Trong khuôn khổ của tương quan nhân quả, đạo Phật không bao giờ xem „tự tử“ như là phương tiện giải thoát, bởi v́ „tự tử“ là một thái độ tuyệt vọng, chận đứng mọi hi vọng và hoài băo giải thoát toàn diện trong tự do, bởi lẽ một cái chết như thế làm cho con người bị ràng buộc vào sinh tử, có nghĩa là vẫn c̣n nằm trong chuỗi luân hồi như một ṿng khuyên trong chuỗi nhân quả tương đối mà con người bị mắc vào. Ước vọng của con người trái lại, và đây chính là diệu đế thứ ba, là được giải phóng toàn diện lên trên ṿng sinh tử ấy mà chỉ có cuộc sống mới cho con người cơ hội thực hiện giác ngộ để giải phóng.

 

Từ đó ta có thể hiểu tại sao hai lần NDu đă không để cho nhân vật của ḿnh „chết“ như là một sự kết thúc câu chuyện, hay kết liễu đời ḿnh. Lần thứ nhất, v́ c̣n „nặng nợ má đào“, phải trả cho hết „duyên xưa“, cho hết „kiếp liễu bồ“ nên Kiều phải sống. Gọi là „nợ“, là „duyên“ theo đạo Phật, bởi v́ trước hết sự sống của mỗi người không do chính con người chọn lựa, hiện sinh con người do đấy đă được được đặt định bởi một chuỗi duyên nghiệp mà nấc duyên nghiệp cuối cùng là cha mẹ sinh thành. Nhưng sự sống có ư nghĩa hay không lại do chính con người quyết định, chính sự quyết định này là tự do của con người, là đạo đức hay „bước lên đường“ của con người. Bước thứ nhất để cho con người quyết định tự do của ḿnh lại là một bước „cùng với người“ trong t́nh nghĩa đối với cha mẹ: chữ Hiếu, chứ không phải „t́nh riêng“ của ḿnh.  Nàng Kiều đă bắt đầu với bước đi ấy, để „làm người“, nhưng cũng để thấu đáo cùng tột „điều kiện“ hay „thân phận“ làm nguời  trong một cọng nghiệp hay cọng thể xă hội phức tạp thiện ác lẫn lộn và ác nhiều hơn thiện, sau khi rời khỏi ṿng tay thương yêu của cha mẹ

Lần thứ hai Kiều được Giác Duyên cứu sống „nạn xưa trút sạch làu làu“ và được đoàn tụ „duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này“. Đây là điểm mà nhiều nhà phê b́nh truyện Kiều lên tiếng chê trách bố cục truyện Kiều, họ cho rằng đáng lẽ ND nên nhân đạo hơn hay nên thoát khỏi tư tưởng phong kiến luôn luôn chà đạp đàn bà, bằng cách cho nàng Kiều chết thật trong sông Tiền Đường hay cho nàng đi tu trọn kiếp, thay v́ để nàng sống một cuộc sống đọa đày lần thứ hai.  Nói như thế họ đă tự phản bác ngay quan điểm của ḿnh gấp đôi:

-         Một đằng họ quan niệm đạo Phật yếm thế bi quan, nhưng chính họ lại chủ trương một giải pháp bi quan tuyệt đối diễn tả sự tuyệt vọng, vô vọng của con người trước mọi nỗi khổ đày đọa con người khi đề nghị nên chấm dứt câu chuyện ngay ở đoạn nàng Kiều nhảy xuống sông  

-         Đàng khác, chính sự chấp nhận kết liễu cuộc đời của Kiều là một thái độ tiêu cực trong việc đánh giá thân phận người phụ nữ, sau một quăng đời bỉ ổi như thế nên chấm dứt cuộc đời, bởi v́ sự „sống c̣n“ chỉ là một thứ sĩ nhục  Dưới h́nh thức phê b́nh thái độ coi rẻ phụ nữ của thời phong kiến, quan điểm này lại biểu lộ một thái độ thoái hoá văn hoá trong trào lưu tư tưởng hiện nay, như một biểu đồng t́nh với chính đối tượng phê b́nh của ḿnh.

 Nguyễn Du đă chọn cho nhân vật của ḿnh giải pháp sống lại trong sự che chở của nhà chùa, trong mái nhà tôn giáo đương thời. Chính trong chuỗi đời 15 năm, nơi mà nàng Kiều t́m được sự nương tựa trong những lúc tuyệt vọng nhất  là mái chùa Quan Âm các, mái chùa Giác Duyên và mái chùa ở sông Tiền Đường. Nguyễn Du đă nh́n rơ giá trị của những nơi ở ẩn này như những „giọt nước cành dương“ cứu sống con người trên quăng đường cháy khát.

Yếu tố này cho ta liên tưởng đến câu trả lời của vị sư già trong cuốn phim Đại hàn được giải thưởng phim ảnh quốc tế  „Tại sao Đạt Lai Lạt Ma đi về phương Đông?“[29] khi nghe lời trách cứ của người đệ tử tại sao ông không xuống núi cứu thế mà ngồi khư khư giữ ngôi chùa rách nát trong núi: „Để cho những kẻ ngốc tử như nhà ngươi có dịp trở về đặt những câu hỏi ngốc ngác“. Câu trả lời này có lẽ nói lên được tầm quan trọng vô h́nh của mái chùa mà Nguyễn Du đă nh́n thấy trong thời đại của ông. Những mái chùa ẩn cư, cũng như Linh Sơn, Yên tử, hiện hữu mà không đ̣i hỏi „một chỗ đứng thế tục“, như một định chế thoát tục, nhưng chúng  nằm trong thế đối đăi với thế tục như cặp tương quan khổ tận – cam lai, khổ - diệt khổ, cần phải được hiểu „TRONG TƯƠNG QUAN VỚI“, nếu hiểu riêng biệt sẽ đi đến những kết luận phiến diện, xa sự thật. Trong ư nghĩa đó Nguyễn Du đă không để Kiều lưu lại trong chùa trong quăng đời c̣n lại, cuộc „trở về đoàn tụ“ được thực hiện ngay trong „ḷng đời“ sau những ngày thanh tịnh „sự đời đă tắt lửa ḷng“. Giấc mộng „hương quan, đoàn viên“ của nàng Kiều biến thành hiện thực trong đoạn cuối „có hậu“ (CHĐ) của truyện Kiều. Ngược lại với sự chỉ trích  cho rằng đoạn kết „có hậu“ này là một kết thúc „khuôn sáo“ theo nghệ thuật văn chương cổ điển đông phương, đọc những vần thơ cuối cùng cho ta thấy nhà thơ đă biến cuộc tái ngộ này thành đỉnh cao nghệ thuật thi ca và nhất là tư tưởng đại đồng của ông.  

 

3.2. „Đoàn viên“ đối nghịch (versus) với „về nhà là về nhà“ của nhà thơ Xuân Diệu

3. 2. 1. Hai quan điểm dị biệt.

 

Như đă đề cập trong phần tŕnh bày về bố cục truyện Kiều, đoạn kết thúc của truyện Kiều thường bị phê b́nh nhiều nhất về phương diện tư tưởng. Quan điểm phê phán thường cho rằng Nguyễn Du đă cưỡng bách Kiều trở về „trả nợ đời“ một lần thứ hai, qua đó là một thứ đày đọa tàn nhẫn thân phận người phụ nữ theo cảm nghĩ phong kiến, và cuộc trở về này đă làm giảm tính chất nghệ thuật của tác phẩm thi ca qua sự „gượng gạo“ và „bất ổn, không tự nhiên“[30] của cuộc đoàn viên với nhiều tan vỡ bẽ bàng…

Khác với những phê phán trên,  nhưng cũng khác với quan điểm ủng hộ đoạn „có hậu“trong truyện Kiều của Cao hữu Đỉnh, Xuân Diệu cho rằng đoạn kết này là một kết thúc tất yếu nội tại của câu chuyện cũng như của tư tưởng Nguyễn Du, nhưng, - đây là điểm nỗi bật  trong bài viết của ông -, với Xuân Diệu, kết thúc tất yếu này lại không giống với quan điểm của Nguyễn Đăng Thục (sẽ được đề cập đến sau), bởi v́ nó là „Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều“[31]. Xuân Diệu viết:

 

 „Kiều tưởng rời nơi tu hành về nhà là về nhà[32], không ngờ cuộc đời lại đ̣i hỏi nàng một mức nữa, qua lời Thúy Vân. Ôi cái con em gái „khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang“ kia, mày phúc hậu lắm, mày đâu có biết ư tứ ǵ. Sao em đă khêu cái vết thương tưởng đă lành của chị:

"Dứt lời nàng vội gạt đi,

„Sự muôn năm cũ , kể chi bây giờ?

Một lời tuy có ước xưa,

Xét ḿnh dăi gió dầm mưa đă nhiều

Nói càng hổ thẹn trăm chiều,

Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!“

Nhưng Thúy kiều có gạt đi cũng không đưọc nữa, Kim Trọng đă bắt lấy lời Thúy Vân.“[33]

 

Và sau khi phân tích hết lời lẽ của Kiều trong cuộc đối thoại với Kim Trọng, Xuân Diệu kết luận:

 

„…Trong lời nói của Kiều là ǵ, nếu không phải là bản cáo trạng xă hội, do chính nạn nhân lập nên?...; lúc tái hợp này rơ ràng là khi Nguyễn Du uất ức lên cao độ nhất“[34]…“Trong dịp kỷ niệm 200 Nguyễn Du, thiên tài văn học của dân tộc, ta hăy đem bản cáo trạng cuối cùng ở trong truyện Kiều ấy mà đổ lên đầu tất cả những xă hội bóc lột áp bức, và tuyên bố: - chúng ta là kẻ tử thù của những xă hội ấy.“[35]

 

Xuân Diệu của 1965, khác với Xuân Diệu „Thơ Thơ“ của thời tiền chiến, phải đi đúng đường lối „chính nhà thơ cũng phải biết xung phong“, cho nên ông đă đọc Nguyễn Du với cái TÂM chiến đấu thù nghịch với những xă hội bóc lột áp bức. Có lẽ  không những vào thời điểm 1965 mà bất cứ lúc nào nhà thơ cũng nên chống những áp bức bất công của xă hội dù dưới h́nh thức nào, nhưng đọc đoạn cuối của truyện Kiều trong tâm thức như XDiệu đọc có thể nói là chưa hiểu hết tâm hồn và  tư tưởng của Nguyễn Du gửi gắm ở đây.

Nguyễn Đăng Thục đă có một cái nh́n khác trong „Tâm lư văn nghệ truyện Kiều của Nguyễn Du“. Ngược với Xuân Diệu khi nhà thơ này „Cám ơn Nguyễn Du biết thương người, biết v́ nể gượng nhẹ cho những trái tim, nên cố đem tài ḿnh tả t́nh yêu của hai người ấy...nhưng mỗi lần đọc tới những lời Kiều nói, ba đợt trong cuộc đoàn viên, chúng ta lại xót xa tức tối không chịu nổi“[36], Nguyễn Đăng Thục trong khi phân tích thực trạng tâm lư đa t́nh đa cảm của nàng Kiều đă nhận định:

„Tâm hồn Kiều trước kia đang c̣n vọng động, bắt đầu bước vào trường đời, c̣n ngày nay th́ b́nh tĩnh v́ đă biết qua kinh nghiệm bản thân đến chỗ giác ngộ.

Khúc đâu đầm ấm dương ḥa

Ấy là Hồ điệp hay la Trang sinh?“[37]

 

Giải thích chữ Tâm của Nguyễn Du, mà Xuân Diệu hầu như không đề cập đến, NĐT cho rằng:

…Nguyễn Du ở đây chủ trương giải thoát bằng cái Tâm của nhà Phật là t́nh yêu Bi-Trí-Dũng (Prajna-Karma) của Bồ tát Quan Âm, tức là cái Tâm giác ngộ tổng hợp cả t́nh lẫn lư…“[38]

và đi đến kết luận:

„Nguyễn Du đă thâm hiểu sức mầu nhiệm của t́nh yêu vĩnh cữu, trường sinh bất tử

Nợ t́nh chưa trả cho ai

khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan

cho nên đă lấy chữ Tâm giải quyết chữ Tài, coi Tài như hạt thóc phải hủy thể đi cho bông lúa Tâm Huệ phục sinh nẩy nở, con người cũ chết đi để con người mới quân b́nh xuất hiện không ở đâu xa, ở tại ngay tâm hồn ta v́ „Thiện căn ở tại ḷng ta“. „Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“[39]

Rơ ràng Nguyễn Đăng Thục đă đọc Nguyễn Du với một „Tâm“ thức khác hẳn Xuân Diệu, và nếu so sánh hai quan điểm này , th́ sự cám dỗ  „xếp loại“ hai tư duy ấy theo ư thức hệ „diều hâu hay bồ câu“ rất dễ dàng.

Ta hăy để cám dỗ đó không nảy sinh, v́ nó không nằm trong ư hướng của bài viết này, mà chỉ đặt câu hỏi „đoàn viên“ có phải là „về nhà là về nhà“ như XDiệu tuyên bố.

 

Đọc đoạn cuối truyện Kiều ta có thể thấy bố cục cũng như nội dung về „đoàn viên“ thật sự phức tạp hơn cũng như  khác hẳn với suy nghĩ đơn thuần máy móc của Xuân Diệu „về nhà là về nhà“, chấm hết, không nói lôi thôi.

Đă đành là về nhà nhưng làm thế nào để „về nhà“ chỉ là „về nhà“, sau 15 năm „thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần“? Có xă hội nào từ xưa cho đến ngay cả ngày hôm nay chấp nhận một cô gái điếm vào trong nhà với mọi niềm nở? Và cách đối xử ra làm sao với một con người „ong qua bướm lại đă thừa xấu xa“ như thế sau cuộc mừng vui đoàn tụ?  Vui đoàn tụ có lẽ kéo dài hai ba bữa nhưng sau đó thực trạng hoàn cảnh phức tạp của từng phần tử cá nhân đă có những quá khứ khác nhau có thể tạo nên một cuộc sống chung ḥa hợp hay không. Cũng như sau một cuộc huynh đệ tương tàn, anh em ngồi lại với nhau không dễ dàng nếu không có „đả thông tư tưởng“, cũng như sau một cuộc chiến tranh, chiến thắng chưa phải giản đơn là chiến thắng, chiến thắng thật sự là tái lập ḥa b́nh trên cơ sở con người, trên cơ sở đạo đức để có thể thực hiện ḥa b́nh vĩnh cửu. Nói tóm lại cần có một phương thức (Konzept) cho cuộc trở về thực sự là đoàn viên trong ư nghĩa ḥa hợp.

Nhà thơ Nguyễn Du đă dành cho ta nhiều kinh ngạc khi đọc lại đoạn cuối truyện Kiều, kinh ngạc trước cái tâm bao dung của ông mà N ĐT gọi là TÂM TU-BI. Có thể nói tóm tắt trong một câu: Nguyễn Du đă dành cho đoạn cuối này phần lớn nhất trái tim ông, từ đó vượt giới hạn của một nhà thơ g̣ bó tư nhân tư kỷ để trở thành nhà thơ đại đồng mà không bị hư hao về phuơng diện nghệ thuật, thẩm mỹ thi ca.

 

3. 2. 2. Chữ Trinh như „thiện căn ở tại ḷng ta“

 

Điểm vượt thứ nhất của ông liên quan đến „chữ t́nh“ của nàng Kiều. Chính v́ „chữ t́nh“ ấy mà Nguyễn Du không để nàng Kiều ở lại chùa đi tu cho hết cuộc đời c̣n lại. Chính tâm thức Phật giáo bát nhă của ông trong quan niệm „Phật hữu t́nh“ [40](Văn tế thâp loại chúng sinh) đă ngăn chận mọi liễu tri có tính giáo điều về quan niệm „la hán không trở lại“ và đón nhận cái nh́n mở rộng về vị Phật hữu t́nh (Bố tát) sẵn sàng trở lại thế gian để cùng chia xẻ với thế gian. Do đó „sống“ là cơ hội thực hiện không chỉ giác ngộ cho riêng ḿnh (đi tu) mà c̣n thực hiện hạnh chia xẻ, hạnh từ bi và bao dung ngay trên thế gian (Bồ tát thơng tay vào chợ). Có thể nói từ góc độ này Nguyễn Du xây dựng ư niệm đoàn viên với một chữ „t́nh“ rất mới so với quan niệm Nho giáo cũng như tập quán dân gian  thời bấy giờ.

Chữ t́nh ấy thật sự đă khởi đầu từ khi nàng Kiều lần đầu tiên gặp Kim Trọng mà „t́nh trong như đă mặt ngoài c̣n e“. Trong chữ „t́nh“ ấy nhà thơ không thấy biên giới lễ nghi hay giai cấp trọng nam khinh nữ, cho nên nhà thơ đă để cho Kiều vừa kín đáo mà đa t́nh đưa tín hiệu yêu thương bằng cách bỏ rơi cành kim thoa, vừa  táo bạo mà cũng v́ thế rất đáng yêu „xăm xăm băng lối vườn khuya một ḿnh“ t́m đến người yêu - một hành động đă bị các nhà phê b́nh đạo đức đương thời phê phán gắt gao khi đặt vấn đề đức hạnh của người phụ nữ. Nguyễn Du đă không ngần ngại vượt tam cương ngũ thường của Nho giáo, và xa hơn nữa có thể nói nhà thơ đă nhận rơ hơn ai giá trị thực sự của người phụ nữ, ông đă  cho người phụ nữ ấy tự do TỎ T̀NH, đem hết trái tim yêu thương bộc bạch với người yêu bằng những câu thơ hay nhất trong thi ca:

 

"Nàng rằng khoảng vắng đêm trường,

V́ hoa nên phải đánh đường t́m hoa

Bây giờ rơ mặt đôi ta

Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao“

 

Không có hành động nào tự nhiên, đẹp và tha thiết hơn thoát ra từ tấm ḷng chan ḥa t́nh yêu ấy, nó vượt lên trên mọi đánh giá luân lư hay so đo hơn thiệt về một chữ „TRINH“ khô cằn trong Nho giáo. Mối t́nh thiết tha ấy đă được Kim Trọng chia xẻ và ǵn giữ trang trọng. Đoá hoa t́nh mà Kiều trao tặng đă t́m được kẻ tri âm, đă là hạt „nhân“, là viên ngọc được Kim Trọng nâng niu, nhớ măi, cho nên tương tư, cho nên hao ṃn, cho nên đau đớn, cho nên ngất đi, cho nên đi t́m, t́m măi cho đến khi gặp lại mới thôi. Có thể nói theo tâm cảm nhà thơ, Kim Trọng đă trở nên một người t́nh lư tưởng nhờ vào t́nh yêu đẹp như ngọc của Kiều hay nói khác hơn chính ngay giờ phút „v́ hoa“, v́ t́nh yêu lên tiếng réo gọi nên Kim Trọng mới hiện hữu như người t́nh, mới là „HOA“ của „HOA“ mới là đối tượng của t́nh yêu. Kim Trọng là âm vọng của Thúy Kiều trong mắt Nguyễn Du. Âm vọng ấy trở nên câu trả lời cho 15 năm sau.

Có ǵ trong mối t́nh ấy làm cho Kim Trọng suốt đời không quên, dù đă không một lần chung chăn chung gối? Có lẽ không chi khác hơn là trái tim nóng hổi yêu thương của người con gái trẻ măng, nóng hổi thiết tha hết mức nhưng đoan chính nghiêm trang cũng tột cùng „thưa rằng đừng lấy làm chơi“ như một dấu hiệu khao khát tính vĩnh viễn của t́nh yêu, cho nên từ  khi „đá biết tuổi vàng“ th́ suốt 15 năm cuộc đi t́m người yêu „đáy biển ṃ kim“ ấy của Kim Trọng là bởi „vàng đá“ thuở ban đầu, chứ không phải v́ „trăng hoa“ nhất thời sôi nổi.

Có thể nói, với tâm cảm  „đạo về t́nh“của ông, về một chữ „yêu“ trong đó người phụ nữ đóng vai chính quyết định t́nh yêu của ḿnh, Nguyễn Du đă vượt xa những thành kiến của xă hội đương thời về người phụ nữ, đồng thời thách đố tất cả những trào lưu đương đại về t́nh yêu, t́nh dục, về „t́nh yêu định mệnh“ (fatalismus), về „thà một phút huy hoàng rồi chợt tối“, „yêu một lần là xong“, về „giải phóng phụ nữ bằng âm hộ“ vv và vv. Yếu tính của „t́nh đạo“ ấy theo Nguyễn Du nằm ở chỗ phải nêu lên được và làm tỏ rơ ranh giới giữa "ái“ và "dâm“, giữa "mắc điều t́nh ái khỏi điều tà dâm“, chính ranh giới này người phụ nữ hoàn toàn có tự do ấn định, và chính nó khẳng định thể tính (être, Sein) tự do của người đàn bà trong tương quan t́nh yêu.

Trong t́nh yêu với Kim Trọng, Kiều đă xử dụng tự do ấy tuyệt đối: nói „dạ“ một cách đam mê cho t́nh ái và nói „không“ từ chối t́nh dâm, tiếng „không“ ấy được phát biểu  không phải v́ một thế lực định chế nào khác hơn là sự thành tâm muốn ǵn giữ nỗi đam mê ấy được măi hoài là đam mê ban đầu. Chữ „không“ ấy là v́ t́nh chứ không phải v́ lư, nó là lư lẽ tồn tại (raison d´être) của t́nh yêu: TRUNG TRINH, trung thành và duy nhất cho t́nh yêu đă chọn lựa trong tự do. Cũng như giữa „hiếu và t́nh“, sự chọn lựa bên t́nh bên hiếu“ xảy ra trong tự do. Nói không với „t́nh“ mà chọn „hiếu“, có thể từ chối t́nh riêng  để đáp t́nh mẹ cha,  chứng tỏ  t́nh yêu của Kiều không dâm, không bị vẩn đục,  cho nên Kim Trọng nói: „như nàng lấy hiếu làm trinh, bụi nào cho đục được ḿnh ấy vay“.

Nguyễn Du luận về chữ „TRINH“ có ba bảy đường với một cảm thức „siêu vượt“ về thực thể của con người „KHÔNG NGÔI THỨ“[41] trong quan niệm Thiền học,  bóc vỏ hết những lớp „ba bảy đường“ định kiến, định chế, định mệnh, vào tận trong ư nghĩa thể tính của t́nh yêu, để chỉ ca ngợi, thi hóa  chỉ một chữ TRINH như là một trong những điều kiện hiện hữu của t́nh yêu, t́nh người, một chữ TRINH nằm trong chữ MÊ như là mảnh đất tồn tại của „MÊ T̀NH“, ĐẮM T̀NH, như nước giếng Trọng Thủy làm sáng viên ngọc Mỵ Châu.

Cho nên từ khi câu hỏi ướm t́nh của Kim Trọng:

„Thoa này bắt được hư không

Biết đâu hợp phố mà mong châu về?“

 

Viên ngọc t́nh ấy, dù năm dù tháng, dù  trong 15 năm tưởng đă ch́m đáy bể, vẫn là giấc mơ „châu về hiệp phố“ của người t́nh chung:

 

"Dẫu rằng vật đổi sao dời

Tử sinh, cũng giữ lấy lời tử sinh

Duyên kia có phụ chi t́nh

Mà toan chia gánh chung t́nh làm hai“

 

Cái nhân duyên „t́nh“ ấy của đầu câu chuyện là lư do nội tại của đoạn kết truyện Kiều.

 

3.3. Những nét độc sáng trong đoạn thơ đoàn viên.

 

Có thể nói, trong đoạn kết này, bằng sức nhạy cảm cùng tột, tư tưởng của nhà thơ đă bắt kịp được sức sống thi ca của ông trên 4 b́nh diện vượt bực: b́nh diện diện tâm linh, xă hội, tâm lư và tư tưởng, trong đó căm thức tâm linh làm nền tảng cho tư duy của ông.

 

3.3.1. Đoàn viên và chuyển nghiệp.

 

Trước tiên, trong cuộc đoàn viên này, nhân vật đă từng ước mơ đoàn viên bỗng sợ „đoàn viên“ hơn ai cả. Đó là tâm trạng của nàng Kiều, mừng được đoàn tụ nhưng lại sợ gặp gỡ. Nàng trở nên thụ động. Thụ động là phải, v́ người gieo nhân, đang nhận quả. Chính Kim Trọng, „tiếng vọng“ hay  người t́nh và  cha mẹ anh em, đầu mối của chữ hiếu, trở nên chủ động và lên tiếng đón mừng người t́nh trở về, người con trở về. Tư thế chủ động thực hiện đoàn viên về phía những người ở nhà đem lại một chiều hướng (Dimension) mới cho ư niệm đoàn viên, vượt trên ư nghĩa nội tại đơn thuần „về nhà là về nhà“, đem túi nải vào t́m một góc nhà để ngồi.

Chiều hướng này mang ít nhiều ư nghĩa tôn giáo, thiêng liêng[42], như là chân trời mới mở ra cho thấy ư niệm toàn thể (Ganzheit) làm nền tảng trong chuỗi nhân quả luân hồi: TA và NGƯỜI trong một nhất thể „bọc chứa“ con người. Ư niệm nhân quả luân hồi không ngôi thứ, không trước sau theo nghĩa đường thẳng mà là đường ṿng qua câu ca dao „sinh con rồi lại sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi lại sinh ông“ làm nên một phần nền tảng đạo đức học Phật giáo trong ư nghĩa tất cả chúng sinh đều là thân thuộc (Văn tế thập loại chúng sinh), đều là MỘT TOÀN THỂ (chúng ta, nous, wir, we) trong đó tôi và anh chị đều hiện hữu đồng thời và khắp nơi ở trong ngôi nhà thể tính trở thành (Être dans le Retour, das werdende Sein) , từ đó phát tâm thiện hảo với mọi chúng sinh.[43]

Thật là thú vị khi Nguyễn Du diễn tả ư niệm ấy bằng hai chữ „rộng xem“, nh́n cùng khắp th́ thấy có …một nhà: „rộng xem đủ mặt một nhà“, trong ư nghĩa vừa thực tại (Kiều nh́n quanh nh́n xa ra hết mọi phiá th́ thấy đông đủ bà con) vừa siêu việt.

Trong bể chứa „con người“ có cả địa ngục và niết bàn. Con người có thể là địa ngục của ta mà cũng có thể cho cơ hội giúp ta giải thoát. Sau „địa ngục là miền nhân gian“ nàng Kiều trở về trong ṿng tay lớn của gia đ́nh:

„Này chồng này mẹ này cha

Này là em ruột này là em dâu…

Rộng xem đủ mặt một nhà:

Xuân già c̣n trẻ, huyên già con tươi;

Hai em phương trưởng ḥa hai,

Nọ chàng Kim đó , là người ngày xưa!

Tưởng bây giờ là bao giờ,

Rơ ràng mở mắt c̣n ngờ chiêm bao!

Giọt châu thánh thót quẽn bào

Mầng mầng, tủi tủi, xiết bao sự t́nh!

 

Nỗi vui mừng thật là lớn lao khi một nguyện cầu được đền đáp, và cuộc t́m lại được người con „ngộ biến“ 15 năm như một phép nhiệm mầu „châu về hợp phố“:

 

"Rơ ràng hoa rụng hương bay

Kiếp sau hoạ thấy, kiếp này hẳn thôi

Minh dương đôi ngả chắc rồi,

Cơi trần mà lại thấy người cữu nguyên“

"Nỗi mầng biết lấy chi cân

Lời tan hợp, chuyện xa gần thiếu đâu?

Hai em hỏi trước, han sau,

Đứng trông chàng cũng đổi sầu làm tươi.

 

Một nỗi vui toàn vẹn như thế có một chút kính cẩn thiêng liêng mà con người trong giới hạn của ḿnh bỗng thấy chạm đến sức mạnh siêu việt: sức mạnh tái sinh ấy nội tại trong ta mà cũng ngoài ta trong nghĩa „toàn thể“ hay „đoàn viên“. Cho nên không quên cám ơn „tâm từ thương chúng sanh“[44]:

 

Quây nhau lạy trước Phật đài.

Tái sinh trần tạ ḷng người từ bi

 

Ai bảo đây là những vần thơ gượng ép về cuộc đoàn tụ, kẻ ấy mang tâm trạng của lớp độc giả „sadistisch“ (bạo dâm), chỉ muốn đọc nhân vật chính bị đày đoạ đến tột cùng, nhân vật càng bi thảm, càng tuyệt vọng cho đến chết, người đọc càng được phấn kích tính bạo dâm của ḿnh và cảm thấy thoả măn nhu cầu t́m kiếm cái hụt hẩng, cái không vẹn toàn, cái vụn vặt. Văn học nghệ thuật tây phương sau thời „Khát vọng và giông tố“, văn chương hậu tân tiến với những trào lưu hiện thực, hiện sinh đă cung cấp đ̣i hỏi này như một qui luật „phải“ làm („muß“). Sự nhấn mạnh „bóng tối“ đối chơi với áng sáng mặt trời, như Nietzsche có lần phát biểu, gây cảm hứng cho nghệ thuật, bóng tối kích thích trí tưởng tượng cần thiết cho sáng tạo, cho hoang tưởng. Nietzsche chịu ảnh hưởng của Phật giáo qua Schopenhauer, nhưng ông đă tuyệt đối hoá ư niệm tính không đến hư vô chủ nghĩa, đă tạo nên một mỹ thuật học siêu h́nh (arte metafisica) dựa trên „amor fati“ (t́nh yêu định mệnh).

Ngược lại với tinh thần trên, đoạn „có hậu“ của truyện Kiều, như Cao Huy Đỉnh nhận xét, đă được Nguyễn Du triển khai thích hợp với cảm nghĩ và tư duy Đông phương về „chung cuộc“ như là dấu ấn thoát khỏi „bề trầm luân“ của từng câu chuyện, ngoài đời cũng như trong văn chương, mọi sự việc đều nên được „vuôn tṛn“. Cuộc t́nh phải là chung t́nh, chứ không phải định mệnh chia đôi. Cảm nhận nhạy cảm cũng như sự uyên thâm triết lư đạo Phật của nhà thơ đă làm cho đoạn kết này không c̣n là khuôn sáo rập mẫu mà trở nên một điểm cao tư tưởng văn học Việt nam.

 

3. 3. 2. "Con người trần trụi không ngôi thứ“[45] hay cô gái điếm Thúy Kiều và ông quan Kim Trọng.

 

Mỗi cuộc trở về của đứa con lạc loài mang một ư nghĩa thiêng liêng của sự hội nhập vào căn nhà thể tính (Haus des Seins), cho nên đứa con ấy phải được truy nhận trong nhân cách cao quí của người trở về[46]. Nguyễn Du đă cảm nhận ư nghĩa ấy hơn ai hết qua cái nh́n chúng sinh và Phật hữu t́nh là một. Tuy nhiên trong xă hội Việt nam mang nặng những thành kiến đạo đức hẹp ḥi đối với người phụ nữ, và nhất là với một cô gái điếm như nàng Kiều, vấn đề không phải đơn giản. Tủi nhục ê chề đến từ hai phía, và sự chạnh nghĩ niềm riêng có lẽ vẫn khắc khoải cho từng phần tử trong gia đ́nh, nếu không có một cuộc „gạn đục khơi trong“ tẩy sạch mọi mặc cảm. Cuộc trở về có thể là địa ngục lần thứ hai như có nhiều người đă phê phán.

Nhưng quả thật không có một ư tưởng nào táo bạo hơn trong thời của ông đồng thời mang đến nhiều trang trọng cho người phụ nữ như thế khi Nguyễn Du đưa Kiều trở về trong một cuộc đối thoại tay ngang với người t́nh cũ sau buổi tiệc đoàn viên. Nguyễn Du táo bạo trong trái tim từ bi nhân ái, và trang trọng cũng từ trái tim ấy đối với người phụ nữ - nhất là với người phụ nữ đầy thương tích nội tâm như nàng Kiều.

Ông đă vượt qua thành kiến của xă hội thời ông nhưng cũng vượt trên mọi phê phán thiển cận mấy trăm năm sau, khi dành cho Kiều một chỗ ngồi trang trọng như thế trong cuộc đối thoại  thật sự không c̣n ngôi thứ giữa cô gái điếm Thúy Kiều và ông quan Kim Trọng: cuộc đối thoại của „t́nh nhân lại gặp t́nh nhân“.

Ở đây Nguyễn Du như một nhà tâm lư học phân tích (Psychoanalytiker) thực hiện một cuộc trị liệu tâm lư nàng Kiều. Và người trị liệu có khả năng nhất không ai khác hơn là người t́nh đă một phen tri kỷ, đă một phen chia nỗi đam mê, chia chữ trung trinh với nàng, hay như đă nói ở trên, trong cuộc đoàn viên này tiếng vọng của t́nh yêu ấy đáp lễ tri âm: Kim Trọng và chỉ có Kim Trọng mới chữa lành được căn bệnh của nàng Kiều.

 

-         Sẽ rất bẽ bàng - chứ không phải như XDiệu ở trên nhận định „sao mày khơi lại vết thương cũ của chị“ nếu trong cuộc đoàn viên này những người ở nhà không chủ động lên tiếng đề nghị „nối lại t́nh xưa“. Thúy Vân, người em đă thay Kiều kết duyên với Kim Trọng, đă nói điều ấy với tất cả chân t́nh, như một truy nhận chỗ đứng và vai tṛ vẫn không thay đổi trong gia đ́nh của người chị lạc loài. Ở đây ta thấy Nguyễn Du lại chứng tỏ hơn một lần nữa sự nhạy cảm bao dung trân trọng người phụ nữ, cũng như  sâu sắc về mặt tâm lư và nhất là chú trọng đến tâm lư người phụ nữ: trong suốt câu chuyện Nguyễn Du chỉ tả nét đẹp Thúy Vân một lần rồi thôi, nhưng trong đoạn đoàn viên, ông đă đưa ra nét đẹp trung thực của người phụ nữ này ở hai điểm: Thúy Vân nằm mộng thấy Kiều c̣n sống kể lại cho mọi người nghe, giấc mộng tái ngộ mà mọi người trong gia đ́nh mong ước, chứng tỏ nàng đâu có vô tư mà ngược lại rất ư tứ. Buổi tái ngộ thật sự, Thúy Vân chứ không phải cha mẹ hay Kim Trọng lên tiếng yêu cầu chị nối duyên xưa. Để cho Thúy Vân phát biểu trước tiên, rồi đến cha mẹ là những kẻ ngày đêm mong ước gặp lại đứa con lạc loài, là một sắp xếp không những chí t́nh mà c̣n hợp lư „phải đạo“ chị em, phải đạo vợ chồng. Nếu để Kim Trọng nói trước, cán cân ḥa thuận trong gia đ́nh trở nên cán cân bạo lực của xă hội trọng nam khinh nữ.

      Nhưng vai chính của cuộc tái hợp không ai khác hơn là Kiều với Kim Trọng.

      Kim Trọng là người lên tiếng sau nhưng là người bênh vực, là luật sư biện hộ

     cho Kiều, đă luận về chữ „trinh“ có ba bảy đường:

 

     „Như nàng lấy hiếu làm trinh,

      Bụi nào cho đục được ḿnh ấy vay“.

 

Lời biện hộ ấy tuy thiết tha, nhưng sau 15 năm thực tế „bán trinh“, „mấy hoa cũng khuyết, mấy trăng cũng tàn“ nó có thể được hiểu như một ngụy biện dùng để thoa dịu, an ủi, như một lư lẽ „nói vào“ cho bằng được, cho nên chưa thuyết phục. Trong cuộc đàm thoại chung, Kiều đă lên tiếng chối từ các đề nghị của mọi người nên tái hôn lại với Kim Trọng. Rồi vẫn bị nài xin nên miễn cưỡng nhận lời. Một đối thoại đầy diễn biến tâm lư của người đi xa trở về, như con chim lạc đạn c̣n mang nỗi kinh khủng trong ḷng, nên thái độ từ chối là một thái độ dễ hiểu, và sự kèo nài của người thân cũng dễ hiểu. Thái độ từ chối ấy thoạt tiên có lẽ được hiểu như một lời từ chối khách sáo của người trở về, cho nên người nhà càng nài ép thêm, - h́nh như càng nài ép v́ muốn biểu lộ hết chân t́nh của những người thân đối với kẻ trở về. V́ chân t́nh quá cho cho nên buộc phải thuận t́nh làm lễ hợp hôn. Cuộc đối thoại giữa mọi người thân với Kiều do đó c̣n chưa thâm nhập cốt tủy dụng tâm của Nguyễn Du.

 

-         Nguyễn Du đă rất vi tế khi đặt cuộc đối thoại rốt ráo thân t́nh trong khung cảnh „pḥng riêng“ của đêm tái hợp Kim Kiều. Cuộc tái hợp trở nên một cuộc giải bày tâm sự của nạn nhân 15 năm lưu lạc với người t́nh đă chứng tỏ hết ḷng thủy chung sau cuộc „đáy bể ṃ kim“. Suốt 15 năm, tiếng nói của Kiều gồm những tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng van xin, tiếng hằn học, tiếng nguyền rủa, những „tiếng đoạn trường“ ấy thường không được nghe, thường bị chà đạp, thường bị cố t́nh hiểu sai, thường bị lợi dụng. Ngay cả với Thúc Sinh hay Từ Hải, Kiều đă không được nghe bằng tất cả tấm ḷng yêu thương và trân trọng, và nhất là không được hiểu thấu tâm can như với Kim Trọng. Cho nên đêm động pḥng hoa chúc với „duyên bẽ bàng“trong tâm trạng „bâng khuâng“ „ngậm ngùi“[47] ngỗn ngang là đêm trái tim bị tổn thương đến cùng cực của nàng Kiều được phơi bày trần trụi nhất, một trái tim đă bị người đời hay xă hội – cũng có thể nói thế với Xuân Diệu, - d́m xuống vũng lầy, một thân phận đàn bà trong mọi hèn yếu của người đàn bà bị vùi dập. Tiếng nói của trái tim bị tổn thương ấy đắng cay, chua chát, nó c̣n bị giam hăm trong lư luận pḥng thủ của kẻ đă từng bị lừa lọc, nó c̣n tính toán thiệt hơn, nó c̣n giận hờn, nó c̣n mỉa mai hằn học, nó tuông hết những ấm ức như một bệnh nhân nằm trên ghế trị liệu (Therapiecouch) phơi bày cái ngă bệnh lư không chút ngại ngần :

 

      Riêng ḷng đă thẹn lắm thay

      Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi

      Những như âu yếm vành ngoài

      C̣n toan mở mặt với người cho qua

      Lại như những thói người ta

      Vớt người dưới đất, bẻ hoa cuối mùa

                Cũng nhơ dở nhuốc bày tṛ

                C̣n t́nh đâu nữa chỉ thù ấy thôi!

                Người yêu ta xấu với người

                Yêu nhau th́ lại bằng mười phụ nhau.

 

Con người ấy, trước đây đă bảo vệ tới cùng „duyên đằm thắm“ không muốn nó trở thành „duyên bẽ bàng“, đang lún sâu trong nỗi hoài nghi tuyệt đối về t́nh yêu để chỉ thấy một thứ t́nh yêu „amor fati“ trong nghĩa dẫy chết bệnh hoạn (morbide) „yêu nhau th́ lại bằng mười phụ nhau“, không có t́nh th́ chỉ có thù, xấu với người th́ người xấu lại. Tuyệt vọng là phải, sau những lần bị lừa gạt trong suốt 15 năm như thế, vết thương nội tâm của Kiều vẫn c̣n sâu hoắm.

Nhưng Nguyễn Du không tuyệt vọng về nhân vật của ḿnh, hay đúng hơn về nhân cách của người phụ nữ mà ông đang đặt ngang hàng với nam giới – có lẽ c̣n hơn – v́ ông đang để cho con người ấy „vượt“ qua tất cả những thường t́nh của lớp người yếu hèn mà Nietzsche đă gọi là những con bệnh được xă hội sản xuất dùng để phục vụ cho lớp người mạnh, lớp người quí tộc sống nhờ những con bệnh ươn hèn ấy[48]. Ông đă để cho nàng Kiều nói „không“ một lần nữa với người t́nh duy nhất trong đời:

 

"Chữ trinh c̣n một chút này

Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan“

 

Chữ „không“ vọng lên giữa những cơn mê sảng tâm lư lần này có một dấu nhấn khác, nó không bật lên từ „lư trí“suy diễn như trong đối thoại trước, như ta lầm tưởng. Lần này tiếng „không“ thoát ra  từ trong tiềm thức của con người Kiều, từ trong bổn lai „thiện căn“ của  người phụ nữ đối với thân xác của ḿnh, nó đến như một trực giác về tự tính (être en soi, Sein an sich) của người phụ nữ, về cái quyền của người phụ nữ đối với thân xác của ḿnh. Quyền ấy trong quá khứ đă bị xă hội đầy cạm bẫy bên ngoài tước đoạt, đă bị những hạng người gian ác dày xéo, làm cho nàng luôn luôn ở trong thế bị cưỡng bách, và lắm lúc để trôi xuôi theo diễn biến sinh lư của thể xác, nương theo lạc thú sinh lư máy móc:

Bấy chầy gió táp mưa sa,

Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.

C̣n chi là cái hồng nhan

Đă xong thân thế, c̣n toan nỗi nào.“

 

15 năm trời „dập d́u lá gió cành chim“như thế có thể tạo nên một quán tính cho người phụ nữ, dễ buông xuôi, một khi „chữ trinh đáng giá ngh́n vàng“ đă mất th́ tất cả những ǵ sau đó liên quan đến nó ít nhiều đều chỉ là máy móc „liều thân th́ cũng phải liều thế thôi“. Tại sao không buông thả một lần nữa, dễ hiểu hơn, hợp lư hơn, nhất là với người t́nh cũ ? Đến nỗi trong giây phút đầu tiên của cuộc tái  ngộ, Kim Trọng cũng đă thoáng chút nghi hoặc: „nghĩ rằng chưa thoát khỏi ṿng ái ân“, nghĩ rằng Kiều cũng đặt nặng chuyện ái ân thường t́nh „t́nh cũ không rủ cũng đến“. Tại sao không? C̣n mất ǵ nữa? Ấy thế mà chính trong một hoàn cảnh không bị ai bắt buộc, hoàn toàn tự do có quyền định đoạt về thân xác của ḿnh trong giờ hợp hôn, Kiều đă nói „không“ với Kim Trọng trong tự thức sâu thẳm của người phụ nữ như là thực thể nhục cảm nữ phái (être sensuellement feminin, sensuell weibliches Geschlecht) vượt lên trên mọi huân tập „ngứa nghề“, của thói quen bệnh hoạn mà Kiều đă bị thao luyện trong đó. Tiếng „không“  này – cũng là yếu nghĩa của chữ TRINH – là khả thể giải phóng cho một nàng Kiều đă bị bắt buộc dùng thân ḿnh phục vụ dâm tính của một xă hội nam tôn nữ ti. Cho nên:

 

                                                            "Trăm năm danh tiết cũng v́ đêm nay“

 

3. 3. 3. Tâm ngữ Tâm.

 

Tuy nhiên, khả thể giải phóng này chưa được thực hiện bao lâu nó chỉ là tiếng nói bộc phát của người đang bị tâm bệnh như Kiều. Tâm bịnh ấy cần có bàn tay trị liệu đầy yêu thương vô hạn như bàn tay của vị Phật hữu t́nh Quán Thế Âm, hay bàn tay của một người t́nh bao dung rộng lượng thiết tha, hiểu rỏ nỗi ḷng của nàng Kiều.

Với Kim Trọng như là người t́nh chung thủy, Nguyễn Du thách đố cả tập thể nam giới thời đại ông cũng như mấy trăm năm lẽ về sau trong khả năng tri kỷ tri âm đối với người yêu, khả năng kính yêu đối với một người phụ nữ. Có ai có thể thương Kiều hiểu Kiều hơn Kim Trọng sau 15 năm cách biệt đau đớn như thế ?[49] Hay họ chỉ đặt những câu hỏi như : rồi Kiều sẽ ngồi ở chiếu nào đây? ngủ ở giường nào, „t́nh cầm sắt đổi ra cầm cờ“ có phải là một quái chiêu không tưởng giữa hai người t́nh ? Hay Kim Trọng sẽ  nằm giữa hai nàng Kiều. Rồi những màn ghen tương đấm đá  nhau sau đó ???.

Sự đồng t́nh của Kim Trọng theo với lời đề nghị của Thúy Vân, nối lại „chữ đồng“, không nên được hiểu như một cưỡng bách sàm sỡ đối với người trở về đă có một dĩ văng đớn đau, đă lỗi lời thề ước; ngược lại thái độ ấy biểu lộ sự chấp nhận tuyệt đối, không một chút do dự, một thái độ chí t́nh nồng nhiệt đối với người trở về đang c̣n xa lạ trong hoàn cảnh mới,  

ôm choàng người trở về trong t́nh yêu thương, trong bao dung có tác dụng hóa giải mọi cách ngăn ngượng ngùng thường t́nh giữa chủ và khách.

Có ai trang trọng Kiều hơn Kim Trong trong đêm động pḥng, biết lắng nghe tâm sự của người yêu dấu, người đă từng làm cho chàng „xương mai hao ṃn“ trong nỗi nhớ, đă „đau đ̣i đoạn, ngất đ̣i cơn, tỉnh ra lại khóc khóc rồi lại mê“ khi nghe tin nàng lưu lạc đường xa ?

Có thể nói sự lắng nghe của Kim Trọng và sự thông cảm nỗi đau đớn với người yêu là phương thức trị liệu thần hiệu tâm bệnh của nàng Kiều. Chính trong đêm động pḥng này Kim Trọng đă t́m lại vóc giáng đích thực của người t́nh cũ qua thái độ từ khước của nàng. Chữ TRINH trong giây phút ấy mới được truy nhận toàn diện bởi người yêu trong tự tính của nó, chứ không qua suy luận của chữ hiếu hời hợt như trong đối thoại đi trước: Chữ trinh ấy là „vàng đá“ tinh ṛng của t́nh yêu chứ không phải „trăng hoa“, đă thuyết phục cũng như gây nên sự thán phục tận tim gan của Kim Trọng:

 

Ta hăy nhận ra điểm khác biệt này qua hai đoạn thơ tả ư tưởng của Kim Trọng:

 

„Xưa nay trong đạo đàn bà

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường

Có khi biến có khi thường

Có quyền, nào phải một đường chấp kinh?

Như nàng lấy hiếu làm trinh

Bụi nào cho đục được ḿnh ấy vay

Trời c̣n để có hôm nay

Tan sương đầu ngơ, vén mây giữa trời

Hoa tàn mà lại thêm tươi

Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.

 

Nghe cũng thiết tha chân t́nh nhưng h́nh như vẫn c̣n „trăng hoa“ phơn phớt bên ngoài của lư luận về chữ TRINH v́ Hiếu, dù hoa ấy trăng ấy mười phần hơn, lời lẽ tuy có ân cần hơn chàng Tiêu, nhưng c̣n ẩn dấu nhiều nghi vấn, dù thương thật là thương nhưng h́nh như tâm c̣n chưa thấu đáo, trí c̣n chưa cạn lẽ, trong đó pha lẫn thương hại nhiều hơn là thán phục.

Nhưng rồi mọi suy luận nhường bước cho cảm thông, thấu hiểu, xoay chiều chợt ngộ bản chất trung thực của người yêu sau khi nghe tâm sự và lời từ khước của nàng. Cuộc đối thoại trở nên „tâm ngữ tâm“ chan ḥa yêu thương lẫn với thán phục

 

Chàng rằng: „ Gắn bó một lời,

Bỗng không cá nước chim trời lỡ nhau

Xót người lưu lạc bây lâu

Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều!

Thương nhau sinh tử đă liều

Gặp nhau c̣n chút bấy nhiêu là t́nh

Chừng xuân tơ liễu c̣n xanh

Nghĩ rằng chưa thoát khỏi ṿng ái ân

Gương trong chẳng chút bụi trần

Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm!

Bấy lâu đáy bể ṃ kim

Là nhiều vàng đá, phải t́m trăng hoa?

Ai ngờ lại họp một nhà

Lọ là chăng gối mới ra sắt cầm“

 

Sự thấu hiểu chữ trinh của người yêu trong thể tính nữ phái (être feminin) của nó vượt khỏi những qui luật cấm đoán thường tục về trinh tiết của người phụ nữ đă cho Kim Trọng thấu rơ lần này c̣n hơn 15 năm về trước nhân phẩm quí giá của người yêu, thấu rơ trực giác tự tính của  người phụ nữ về ranh giới giữa t́nh ái và t́nh dâm trong chính t́nh yêu mà Nguyễn Du đă đưa ra trong buổi ban đầu, hay nói cách khác Kim Trọng đă thấy được bản lai của người yêu, tâm can người yêu ngay chính trên thể xác của nàng, chưa một lần bị bụi trần vẩn đục, bởi lẽ chưa một lần trong đời, Kiều đă dùng tự do của ḿnh để quyết định dấn thân cho ham muốn t́nh dục của chính nàng.

Chỉ trong giờ phút ấy, tâm bệnh của Kiều mới được hàn phục, tấm thân hay nghiệp thân của Kiều mới được gột rửa mọi vết nhơ. Sự giải phóng xảy ra hầu như đồng thời giữa hai người, bấy giờ là gan ruột với nhau, tim gan với nhau, tuy hai mà một trong „tương tri dường ấy mới là tương tri“ :

 

Nghe lời sửa áo cài trâm

Khấu đầu lạy tạ cao thâm ngh́n trùng

Thân tàn gạn đục khơi trong

Là nhờ quân tử khác ḷng người ta

Mấy lời tâm phúc ruột rà

Tương tri dường ấy mới là tương tri !

Chở che đùm bọc thiếu ǵ

Trăm năm danh tiết cũng v́ đêm nay!“

 

Nguyễn Du trác tuyệt trong ngôn ngữ với câu  „thân tàn gạn đục khơi trong“, đồng thời cũng trác tuyệt trong tư duy, chỉ ở một chữ „KHÁC“ thôi: „KHÁC L̉NG NGƯỜI TA!

Trệch ra ngoài chữ „TÂM“, con đường ngộ nhận, lầm lạc, lạc nhau, xa nhau hóa ngh́n trùng xa ngái.

 

Trong hạnh phúc „tương tri dường ấy“, trong „say t́nh“tương ngộ, „Thoắt thôi tay lại cầm tay, càng yêu v́ nết càng say v́ t́nh“, những câu hỏi „cầm sắt hay cầm kỳ“?, „Kiều sẽ sống như thế nào những năm tháng về sau?“, phải chăng nàng Kiều thật sự giải thoát? vv và vv…  có thể sẽ nhận được những câu trả lời cũng tương tự như câu hỏi của con cá „đất liền là ǵ?“. Bao lâu con cá chưa đi trên đất, những câu trả lời qua ngôn ngữ hạn chế chưa tát cạn được thực thể của đất[50] không đem lại tri thức thật sự. Cho nên: 

 

  1. „Mới hay không chữ  ấy phân  kinh“[51] (Tái tri vô tự thị phân kinh) hay bản đàn tái ngộ của nàng Kiều:

 

Đọc Nguyễn Du mà không „nghe“ Nguyễn Du, có thể nói chưa hiểu hết Nguyễn Du, đọc đoạn cuối của truyện Kiều mà không NGHE được cuộc đối thoại „tâm ngữ“ của Kim Kiều là chưa hiểu hết truyện Kiều, đọc đoạn cuối mà bỏ qua không NGHE bản đàn cuối cùng của nàng Kiều là chưa biết được TÂM nàng Kiều. Muốn biết nàng Kiều đă thực sự giải thoát hay chưa, không cần phải lư luận dông dài nữa, hăy thể nhập vào tiếng đàn của nàng và lắng nghe, như Kim Trọng lắng nghe.

Biết lắng nghe là một trong những hạnh Bồ tát, mà kẻ đạt đạo nghe là Quan Thế Âm. Đức hạnh hay khả năng toàn thiện của Quán Thế Âm là có thể nghe hết tất cả những âm thanh trên thế gian để độ thế chuyển nghiệp. Âm thanh là „vô tự“, không chữ nghĩa hay vượt chữ nghĩa, là nền tảng của chữ nghĩa. Thi ca Nguyễn Du đă đi tới chân trời bản thể ngôn từ để thâm nhập vào cơi „vô tự“ thâm kín ấy của tầng rung cảm giác ngộ trong tim con người bằng tiếng đàn của nàng Kiều. Cao hơn một tầng nữa, diễn tả tiếng đàn ấy – „tiếng không lời“ - bằng lời, thi ca hóa „vô tự“ tới mức độ chứng nhập, khải ngộ người nghe, cho thấy cùng với những bản đàn diễn tả tâm trạng nàng Kiều, nhất là bản đàn tái ngộ Kim Kiều, Nguyễn Du quả xứng danh thi thánh trong văn chương và tư tưởng. Thi thánh tư tưởng, bới v́ Nguyễn Du đă thực hiện một cuộc nhập thế ngôn ngữ ư niệm „quan thế âm“ đồng thời với ư niệm chuyển nghiệp, luân hồi tái sinh trong sự toàn thiện toàn mỹ của thi ca.

Ta thử lắng nghe với Kim Trọng để biết nhịp đập của trái tim nàng Kiều trong giờ đoàn viên thật sự:

 

„Phím đàn d́u dặt tay tiên

Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.

Khúc đâu đầm ấm dương ḥa !

Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?

Khúc đâu êm ái xuân t́nh !

Ấy hồn Thục đế hay ḿnh Đỗ Quyên!

Trong sao châu đỏ duyềnh quyên !

Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông!“

Lọt tai nghe suốt năm cung

Tiếng nào là chẳng năo nùng xôn xao.“

 

Tiếng đàn hay lời thơ ? Cái ǵ đă làm người đọc những câu thơ ấy nghe  rờn rợn người như đang sờ được, đang đụng phải trái tim „trong như châu đỏ“ và ấm như „ngọc Lam điền mới đông“ của nàng Kiều ?:„Tiếng huyền gần xa“[52] trong khói trầm lung linh trở nên ma lực hấp dẫn đưa ta len lơi vào thâm cung của bí nhiệm hóa thân, để nghe được hơi thở của mùa xuân theo khói trầm „cao thấp“ trong lẽ huyền vi  u minh. Không khí huyền thoại ảo hóa vây quanh tiếng đàn „tái sinh“ như dẫn dắt hơi thở của sự sống đang trở lại trần gian qua bao nhiêu kiếp người, qua bao tầng „ngục tù“ mê lầm, qua bao nhiêu sát na vô minh của ư thức, cho ta liên tưởng đến tiếng đàn của Orpheus[53] trong huyền thoại Hy lạp làm lối dẫn đường đưa người yêu từ cơi chết trở lại trần gian. Có thể nói tầng rung cảm về tái sinh của nhà thơ đă bắt gặp ước mơ chung của nhân loại về „cuộc trở về“, như tiếng réo gọi „năo nùng xôn xao“ của sự sống. Huyền thoại tiếng đàn đông phương gặp huyền thoại tiếng đàn Orpheus trên cùng một hi vọng „trở về“ dù hai ngả đường đi khác nhau. Nguyễn Du có thể bay trên năm châu thiên địa như thế với tiếng đàn, hay đă đi qua hết „năm cung“ trầm bổng đưa ảo hóa thành sự thật, khác hẳn với Orpheus trầm luân trong tuyệt vọng đánh mất người yêu.

Đă nghe thấu, lọt tai nghe hết, từng tiếng "vô tự“,  nghe đến đâu là thấy đến đó sự chỗi dậy của một cuộc tái sinh, cải hóa  đang trở thành hiện thực: như cánh bướm khẻ đập lần đầu tiên, như chim Đỗ quyên vừa cất tiếng gọi hồn, như hạt ngọc vừa hiện nguyên h́nh, tất cả phơi phới, rực rỡ, lộng lẫy, ấm áp như mùa xuân mới bừng nở trong ánh sáng của giải thoát: nàng Kiều hoá thân, tẩm gội trong tâm thức mùa xuân.

Thi ca „vô tự“ của Nguyễn Du xuất thần nhập cốt ở chỗ nhà thơ đă không dùng chữ „tái sinh“, hay „giải nghiệp, chuyển nghiệp“ của đạo Phật, mà cuộc tái sinh hiển hiện trước mắt. Chữ nghĩa mô tả tiếng đàn lồng lộng đi về như rong chơi ở miền vô bờ: trong đó khi „tiếng của dây đàn“( huyền nghĩa là dây như huyền cầm) trỗi khúc, ta như thấy khoảng u minh (huyền nghĩa là đen) chơi vơi gần xa giữa ảo và thực, đồng thời huyền thoại ảo hoá tái sinh dẫn dắt người nghe đi vào „cung“ bậc của tiếng đàn.

Ở đây, NGHE bỗng trở thành ĐI như một giác ngộ thi ca nhắc ta nhớ đến công án của Hakuin[54]: Người ngồi nghe „Lọt tai nghe suốt năm cung“, nghe hết năm bậc cung thương dốc trủy vũ[55], ngồi nghe nhưng chân đă cất bước  đồng hành với tiếng đàn đi suốt ngơ nghách mê cung (labyrinth) của 5 cảnh giới trong huyền thoại đạo Phật[56] về tiến tŕnh chuyển hóa giác ngộ Phật tính. Có thể nói „vô tự“ của câu thơ nằm ở chữ „suốt“ có sức chuyển thị giác „nghe“ biến  thành „hành uẩn“„đi“ trong sức chuyển nghiệp.

Và người đồng hành với tiếng đàn, người tri âm „dường ấy“ bằng tất cả 5 cung bậc khác nhau của „ngũ uẩn“[57]  đă nghe đến độ có thể hội nhập vào  được bước đi trở thành (devenir, werden) của tâm thức người t́nh trong ánh sáng hóa thân với niềm hỷ lạc chứng ngộ:

 

Chàng rằng: „Phổ ấy tay nào

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?

Tẻ vui bởi tại ḷng này

Hay là khổ tận, đến ngày cam lai?“

 

„Phổ ấy tay nào“ trong ḥa điệu, không c̣n vong thân phân ĺa, tâm ấy, thân ấy trở lại nhất thể : đầm ấm dương ḥa, êm ái xuân t́nh, trong sáng, ấm áp như hạt châu, hạt ngọc Lam điền trong hạnh ngộ cùng nhau „một phen tri kỷ“

 

  1. „Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên“

 

Xuân Diệu đă phê phán gay gắt thái độ "buộc gioa“ (tư sản) trong những câu thơ "về nhà“, về cuộc tái tái hợp Kim Kiều như sau:

 

„Cái gượng gạo, theo tôi, nó nằm chính cống keo đặc lại ở đoạn này:

Một nhà phúc lộc gồm hai

Ngh́n năm dằng dặc, quan giai dần dần,

Thừa gia chẳng hết nàng Vân

Một cây cù mộc, một sân quế ḥe

Phong lưu phú quí ai b́

Vườn xuân mở cửa để bia muôn đời.

Đây là cái văn của đối liễn chúc tụng nhau, sáo một trăm phần trăm. Tôi thiết nghĩ Nguyễn Du chẳng lư thú ǵ khi viết những câu này. Nguyễn Du người đă viết:

Phong trần mài một lưỡi gươm

Những phường giá áo túi cơm sá ǵ!

Là người đă viết:

Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,

Vào luồn ra cúi công hầu mà chi !...

Nguyễn Du đă chẳng quí trọng ǵ cái thứ làm quan „phúc lộc thọ“, cái thứ ngh́n năm dằng dặc vinh hoa, cái thứ tuần tự nhi tiến, bước lên từng bậc một từ quan bé lên quan lớn, một cây cù mộc, con cái đề huề, „phong lưu phú quí ai b́“ thật là một thứ thỏa măn rất "buốc gioa“ (tư sản) ỏ trong một xă hội phong kiến.“[58]

 

Có lẽ sự hăng say chiến đấu của nhà thơ Xuân Diệu đă làm cho ông không thấy và cũng không „nghe“ nhà thơ Nguyễn Du muốn gửi gắm điều ǵ trong đoạn cuối này, điều ǵ có thể làm nền tảng cho cuộc sống đoàn viên, cho sự ḥa hợp ḥa đồng của những con người sống chung với nhau dưới một mái nhà, hay nói theo thuật ngữ chuyên môn: nguyên tắc chung sống ḥa b́nh giữa con người với con người. Nhà thơ Xuân Diệu chỉ muốn nh́n thấy một Nguyễn Du Từ hải đứng trong chiến tuyên của ông, ông chỉ nh́n thấy một phần của tương quan giữa „chiến đấu và ḥa b́nh“, -  trong lúc cái nh́n nhất thể của Nguyễn Du về "khồ và diệt khổ“, "khổ tận – cam lai“ không cho phép nhà thơ nửa vời. Không nửa vời khi cảm thông nỗi khổ của nàng Kiều, th́ cũng không nửa vời khi đưa ra một viễn tượng giải thoát khổ đau ấy, bởi v́ nếu chỉ nói giải phóng gông cùm, tranh chấp mà không có một phương thức thực tiễn theo sau để thực hiện ḥa b́nh đồng đẳng một cách hữu hiệu th́ sẽ rơi vào không tưởng và tự phản bội trên chính mục tiêu đưa ra. Chính Xuân Diệu tự „gượng ép“ chứ Nguyễn Du không „gượng ép“ khi đưa ra một h́nh ảnh ḥa b́nh vĩnh cữu, khát vọng thầm kín không những riêng cho mỗi cá nhân mà của cả nhân loại.

 

Do đấy, những câu thơ trên cũng như những câu thơ đi trước chúng:

 

Hai t́nh vẹn vẽ ḥa hai,

Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ,

Khi chén rượu khi cuộc cờ

Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên

Ba sinh đă phỉ lời nguyền

Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.

 

cần phải được đọc trong những điều kiện tâm lư mà Kim Kiều vừa lư ngộ được qua những đối thoại vừa đưa ra ở trên : cuộc sống „vẹn vẽ ḥa hai“ không phải là phép lạ từ đâu đến, nó đă được gầy dựng bằng tấm ḷng chí thành, với công phu khổ luyện của chữ TÂM.

Tất cả các cuộc đối thoại trên đă cho thấy cuộc chiến đấu nội tâm giữa những người trong cuộc thật là phức tạp gay go. Chỉ sau khi mọi người được khẩu phục tâm phục thông suốt,  ḥa b́nh nội tâm cũng như cảm thông đồng đẳng mới được tái lập trên thiện chí của mỗi người, chỉ lúc ấy hạnh phúc an vui mới được tái thiết.

Trong đoạn này dụng công của nhà thơ không nên được hiểu một cách hời hợt như Xuân Diệu nhận xét:

„Tác giả…đă không để cho Kiều chết ở sông Tiền đường, chết như vậy th́ toàn thể người đọc trong xă hội về trước ở Trung quốc và Việt nam không chấp nhận - Kiều phải cần sống, mà đă sống th́ phải gặp lại cha mẹ, chàng Kim và hai em. Gặp lại Kim Trọng th́ thế nào? Chỗ này chúng ta phải khen Thanh Tâm tài nhân đă giải quyết như ta thấy trong cốt truyện mà Nguyễn Du dùng: „Đem t́nh cầm sắt đổi ra cầm cờ“. Nhưng ta lại phải muôn vàn khen Nguyễn Du: trên cốt truyện, Nguyễn Du đă sáng tạo thêm rất lớn, đă làm thành bản cáo trạng cuối cùng của truyện Kiều, nằm ngay trong lúc vui vẻ nhất, Kim Kiều tái hợp.“[59]

Lối biện chứng oái ăm có tính „phá bĩnh“ cuộc chơi (tiếng Đức, „Spielverderber“) này không những đi ngược lại thành tâm mà c̣n ngộ nhận, hơn nữa phủ nhận tính nhân bản trong cảm nghiệm ḥa giải của nhà thơ Nguyễn Du. Hai chữ „sáng tạo“ mà Xuân Diệu dùng ở đây cho thấy sự lạm dụng danh từ của tâm thức ngụy tín. Nếu có sáng tạo ở đoạn này, và quả thật nhà thơ của truyện Kiều đă chứng tỏ một khả năng sáng tạo vô bờ, th́ Nguyễn Du sáng tạo một ư niệm ḥa b́nh để cho mọi người cùng chia trong tinh thần bao dung.

Với ng̣i bút trung thực Nguyễn Du không ngần ngại  thi hóa ước vọng tầm thường nhất của con người trong mọi tầng lớp xă hội: ước vọng được sống yên ổn, thân tâm an lạc, hạnh phúc trong sự cố gắng vươn lên về tinh thần cũng như về vật chất. Không ngụy tín, ông đưa ra một h́nh ảnh rất „buộc gioa“ của thời ông, và không những của thời ông, nếu ngày hôm nay ta nh́n rơ thực trạng xă hội Việt nam, ta sẽ thấy những „cây cù mộc“, những „sân quế hoè“ đang là nổ lực vươn tới trong tâm trạng vội vàng hấp tấp của những người đă chống „buốc gioa“.

Nhưng trên một tầng cao hơn phần h́nh nhi hạ ấy, cảm nghiệm „khi xem hoa nở khi chờ trăng lên“ phải được hiểu trong tâm thức của những người chung cuộc đă giải thoát khỏi những tị hiềm ngộ nhận, trong ư nghĩa của công án Thiền: trước khi học Thiền thấy núi là núi, cây là cây, sông là sông. Trong khi học Thiền bỗng thấy núi không phải là núi, cây không phải là cây, sông không phải là sông. Khi được giác ngộ lại thấy núi là núi, cây là cây, sông là sông.  Cho nên gánh nước bủa củi hay „khi xem hoa nở khi chờ trăng lên“, hay vẽ lông mày cho Kiều như Vô Kỵ đă vẽ lông mày cho Triệu Minh[60], đều là diệu dụng của tâm thức tự do, giải thoát.

Cho nên „cầm sắt hay cầm kỳ“ không c̣n là băn khoăn trong tâm thức nhất thể "VƯỜN XUÂN MỘT CỬA“

Chữ "một“ ở đây có tác dụng của một thiền trượng đánh thức người ngủ mê !

Hạ chữ  "MỘT“ để tỏ rơ tâm thức mùa xuân nhất thề - truyền thống của Thiền học Việt nam,  cho thấy tư tưởng và ngôn từ nhà thơ xoắn vào nhau, nội tại trong nhau. Nh́n vạn vật với cái tâm nhất thể để thấy diệu dụng đồng tâm, hoà b́nh, không phân biệt, không đối đăi, không hận thù, đó mới là ư nghĩa của cuộc đời, là ước vọng mà muôn người mong đạt như Kim Kiều đă đạt:

"Ba sinh đă phỉ mười nguyền“.

 

6. "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“

 

Nếu đă nghe „lọt tai“ và hiểu tiếng đàn „xuân“ mới của Nguyễn Du trong đoạn kết truyện Kiều, ta không thể đọc những câu thơ cuối cùng chất chứa tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Du như một trang sớ điệp kể ra song song những lư thuyết triết lư của chuyện Kiều và kết luận tư tưởng Nguyễn Du hàm chứa „tam giáo đồng nguyên“: Phật giáo, Nho giáo, Lăo giáo. Từ đó  có người đi đến sự phê phán Nguyễn Du tự mâu thuẫn khi chủ trương đồng nguyên tam giáo như thế.

Có lẽ nên đọc những gịng thơ này như một sự cân nhắc, so sánh, đối chiếu những quan điểm khác nhau đă được xử dụng trong truyện Kiều nhằm lư giải một cảnh ngộ, một tâm trạng hay thực chứng, hoặc nói chuyên môn hơn, những câu thơ :

 

Ngẫm hay muôn sự tại trời

Trời kia đă bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

Có đâu thiên vị người nào,

Chữ tài, chữ mệnh, dồi dào cả hai.

Có tài mà cậy chi tài?

Chữ tài đi với chữ tai một vần

Đă mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại ḷng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

 

nên được hiểu như một tiểu luận hay một cuộc thảo luận so sánh những học thuyết tư tưởng khác nhau đang được phổ biến trong xă hội Việt nam thế kư thứ 18, 19: thuyết  tài mệnh tương đố, hồng nhan đa truân, bỉ sắc tư phong, nhân quả chuyển nghiệp, từ đó rút ra một kết luận nói lên quan điểm triết lư của tác giả đă được ứng dụng trong toàn tác phẩm: 6 câu thơ đầu của đoạn văn trên là tŕnh bày thuyết tài mệnh tương đố. Câu 7 và 8 là nghi vấn và phản luận. 4 câu cuối nói lên chủ trương của tác giả nghiêng hẳn về lư thuyết Phật giáo: về nghiệp, thiện căn (Phật tính), và tâm (Phật tâm). Ở đây cũng như trong toàn tác phẩm, ta thấy rơ rệt tác giả đă dùng tư tưởng Phật giáo để phê b́nh Nho giáo, nền tảng triết lư đạo đức đang chiếm ưu thế trong xă hội đương thời, đồng thời cũng nói lên cảm nghiệm của ông về Phật giáo. Với tâm hồn nhạy cảm của một nhà thơ Nguyễn Du đă vận dụng gia tài văn học triết lư bát nhă mà ông thấm nhuần vào trong thi ca với thủ bút của một thiên tài đầy thi hứng sáng tạo. Tư duy cơ bản về thể tính luận (ontologie) của văn học bát nhă đă đem đến cho ông những cái nh́n rốt ráo về thể tính hiện sinh con người đồng đẳng, mang tính vượt thời đại và thời gian. Trái tim bao dung phóng khoáng của nhà thơ đă nâng thi ca của ông vượt khỏi cái nh́n giáo điều khô cứng của vị kỷ tư nhân để đạt đến tính phổ quát đại đồng. Cuối cùng với cảm hứng tâm linh về viễn tượng giác ngộ giải thoát – điển h́nh nhất ngay sau khi cuộc sống mới hài ḥa trong gia đ́nh Kim Kiều bắt đầu, Nguyễn Du không quên để các nhân vật của tác phẩm thiết lập một ngôi thảo am cho văi Giác Duyên:

„Nhớ lời lập một am mây…

Nặng v́ chút nghiă bấy lâu

Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.“

Mái chùa như một h́nh ảnh quen thuộc trong phong cảnh và tâm thức Việt nam với tâm niệm ở hiền gặp lành nói lên được cảm t́nh đầy đạo vị của Nguyễn Du đối với đạo Phật. 

Đồng thời với cảm hứng tâm linh đầy lạc quan của tâm thức xuân mới trong Thiền học Việt nam nhà thơ đă thi hóa tính nhân bản Việt nam như một yếu tố văn hoá bản địa bắt kịp được trào lưu của nhân loại đại đồng.

Chưa hết, một câu hỏi không ngăn được đến từ sự ṭ ṃ triết học: Tại sao Nguyễn Du hạ bút viết „chữ Tâm kia lại bằng ba chữ tài“ mà không viết bằng hai, bằng mười? Do lư do hiệp vận với câu thơ đi trước: „Thiện căn ở tại ḷng ta“. Chữ „ba“ rơi như một t́nh cờ ? Bởi v́ hai, ba, hay bốn đều chỉ muốn nói một điều TÂM hơn TÀI, có giá trị hơn tài. Hay nên hiểu Nguyễn Du theo kinh Kim Cương : "chữ tâm bằng ba chữ tài“, có ba lần hơn chữ tài, gấp ba chữ tài  trong nghĩa : phát tâm, trú tâm và hàng tâm [61] như Nguyễn Du đă thú nhận:„Ta đă đọc kinh Kim cương trên ngh́n lượt“?. Hiểu chữ tâm hơn chữ tài ở 3 điểm, mới hoát ngộ được thâm sâu của „từ và ư“ trong câu thơ :

Phát triển tâm bồ đề và  hạnh từ bi (phát tâm), giữ tâm vững vàng (trú tâm) trong tự do không chấp trước, hủy diệt ngă chấp (hàng tâm) để…vun  xới  tính thiện nằm sẵn trong tâm. Hiểu chữ „ba“ như thế bỗng thấy được sự mê lầm từ lâu đă từng đọc và từng nghe hơn vạn lần câu „thiện căn ở tại ḷng ta“. Đă chỉ đọc và chỉ nghe chữ thiện theo nghĩa „thiện ác đối đầu“với quán tính lư luận phân biệt , ngờ đâu „ở tại ḷng ta“ chính là tinh nghĩa của khải ngộ Nguyễn Du: thiện ấy ở  sẵn trong ḷng, đó là Phật tâm hay Phật tính, ư nghĩa của kinh Kim Cương, Phật tức Tâm, Tâm tức Phật, nhất thể, không phân biệt.

Có phải đây là lời nhắn gửi của Tố Như cho ba trăm năm lẽ sau, xin đọc và hiểu Tố Như với TÂM không đối đăi ấy? 

 

  1. Kết luận

 

Nietzsche chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Triết học của ông đă ảnh hưởng rộng lớn lên tư tưởng Tây phương trên phương diện học thuật cũng như nghệ thuật của thời tân tiến cho đến ngày hôm nay. Nhưng chủ thuyết hư vô làm nền tảng cho lư thuyết đạo đức học của ông như B. Russel đă có lần phê phán, đă đem lại cho nhân loại nhiều tai họa nguy cơ diệt chủng - lắm khi v́ ngộ nhận hơn v́ hệ quả lô gích – B. Russel nhấn mạnh, nếu chọn giữa Phật và Zarathustra, th́ ông sẽ chọn con đường của Phật v́ đó là con đường của từ bi bao dung[62]

Nguyễn Du chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Thi ca của ông tẩm đượm nhân sinh quan từ bi, bao dung, nhân ái, ḥa hợp và đại đồng của tư tưởng Đông phương, mà đoạn cuối của tác phẩm truyện Kiều đă làm nỗi bật. Đọc áng văn chương trác tuyệt này, người đọc thường chóa mắt v́ vẻ lộng lẫy của ngôn từ đến nỗi trở nên cuồng tín đối với ngôn ngữ, vô t́nh đánh mất viên ngọc quí kết tinh những liễu tri sâu sắc về đạo đức tôn giáo cũng như những cảm nghiệm của tâm thức đặc thù Việt nam, đặc thù nhưng đại đồng của nhà thơ. Tư tưởng này không khập khiểng, hời hợt, giới hạn như nhiều nhận xét trong quá khứ đưa ra, cũng như thường bị ngộ nhận cho đến ngày hôm nay, ngược lại nó là cái ǵ c̣n đọng lại nỗi bật sau khi ngôn ngữ văn chương bị giản lược trong trường hợp tác phẩm được chuyển tải sang một ngôn ngữ khác. Chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác, hào quang của văn chương tuy bị giảm nhưng thiên trường ca lại hừng sáng nét cao quí của tư tưởng Việt nam, như một hương thơm đức hạnh của nếp sống tâm linh người Việt, mà  văn sĩ René Grayssac đă ca ngợi:

 

O prodigue ! De Kiều s ´exhalait un parfum,

Un pur et doux parfum de Piété Filiale

Mille fois plus grisant que l´arôme défunt ![63]

(Lạ thay, ở Kiều toát ra một hương thơm thanh tao êm ái của ḷng hiếu thảo,

Muôn phần ngây ngất hơn là mùi hương xưa đă chết.)

 

Hai trăm năm lẽ qua rồi, xôn xao câu chuyện toàn cầu hóa văn hóa, giữa những rộn ràng trăm hoa văn chương chữ nghĩa, thi ca Tố Như và tư tưởng của ông lại bội phần„trong như châu đỏ duyền quyên, ấm như hạt ngọc Lam điền mới đông.“

 

Rốt cùng lời cuối là một thú nhận: trở lại đọc Nguyễn Du, bỗng thấy rơ giới hạn của chính ḿnh trong sự diễn đạt thi ca và tư tưởng của ông, đồng thời cũng nhận biết ngay tức th́, cảm nhận giới hạn này trong sức hút của thiên tài không tiền khoáng hậu ấy trở nên nỗi thôi thúc, phải đọc thêm một lần nữa truyện Kiều. Nhưng tại sao chỉ thêm một lần ? câu hỏi chỉ để giải minh rằng thôi thúc này hầu như măi măi…

 

Muenchen, trong mùa Nguyên tiêu, xuân Ất Dậu 2005

Thái Kim Lan   

 

 

 

 


[1] Nhan đề của truyện do tác giả đặt là: Đoạn trường tân thanh. Sau Phạm Quí Thích (1760 – 1825) khi đem in đổi là : Kim, Vân, Kiều tân truyện, Bùi Kỳ và Trần Trọng Kim đổi tên là Truyện Thúy Kiều, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đổi là Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện. Hiện nay tên truyện thường dùng là Truyện Thúy Kiều. Theo các nhà khảo cứu văn học, Nguyễn Du đă phóng tác và h́nh thành bản trường ca này bằng chữ Nôm sau khi đi sứ Trung quốc (1813) dưới triều vua Gia Long, trong lúc  giáo sư Hoàng Xuân Hăn c̣n ngờ vực  thời điểm trước tác truyện Kiều nói trên, xem Lời nói đầu Lễ Vu Lan và Văn Tế Cô hồn, Hoàng Xuân Hăn, bản do tác gỉa tự tay đánh máy và  chùa Trúc Lâm Paris phóng ảnh 1991.

Bản tham khảo cho bài viết: Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, Việt nam 1999,  Truyện Kiều chú giải của Vân Hạc Văn Hoè, USA 1976, copyright Lê Bá Kông, 1961/70/76.

[2] Nguyễn Du 1765 (Ất Dậu) – 1820 (Canh Th́n), họ Nguyễn, húy là Du, tự là Tố Như, hiệu là Thanh hiên, biệt hiệu là Hồng sơn Liệp hộ, quán tại làng Tiên điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà tĩnh. Con thứ bảy của ông Hoàng Giáp Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, làm thủ tướng Lê triều, và bà trắc thất tên là Thấn, người huyện Đông ngạn, tỉnh bắc ninh (theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Truyện Thúy Kiều, đd, tr. VI, VII).

[3] Lời mở này đưọc viết và đọc trong Phật học đường Vạn hạnh online trong bai giảng đầu xuân Ất Dậu.

[4] BK&TTK, đd, xem thêm bản tóm tắt truyện Kiều.  tr. 221-223

[5] BK&TTK: Truyện Thúy Kiều, tr. V :„một kiệt tác làm bằng quốc âm ta. Người trong nước từ kẻ ngu phu ngu phụ cho chí người có văn học, ai cũng biết ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là hay“ xem Văn Hạc Văn Hoè, tr. V, đă dẫn.

[6] Nguyên Định, „Sự gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc,nh́n từ góc độ văn học“, trang nhà  Khuông Việt số 5. thánh 9 / 2002

[7] Vân Hạc Văn Ḥe, đ d, tr. V: „Tác giả h́nh như muốn mượn truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết  học tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác“

[8] Xin xem „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“

[9] đd,  Nguyễn Khánh Toàn , „Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt – nam“, tr. 46/47

[10] Trong cùng bài viết, Nguyễn Khánh Toàn nhận định: „Sức hấp dẫn của Truyện Kiều đối với nhân dân thật là kỳ diệu. Nói rằng v́ văn chương truyện Kiều hay cũng chưa đủ để giải thích hiện tượng đó…Lời văn chỉ là lời văn, có thể rất thanh tao, hào nháng, nhưng không thể làm cho đất bằng nổi sóng, nếu từ trong đấy ḷng nghệ sĩ không bốc lên một nhiệt t́nh sâu sắc, một ngọn lửa căm thù.“ Đd, tr. 35

[11] BK&TTK, tr. XXI

[12] H. Hesse, Siddhartha, bản dịch Phùng Khánh Phùng Thăng: Câu chuyện gịng sông“

[13]Lương Chiêu Minh Thái Tử phân kinh thạch Đài (Đài đá phân kinh của Thái Tử Chiêu Minh đời Lương), thơ chữ Hán của Nguyễn Du.

(Ngô Linh Ngọc, Mai Quốc Liên dịch, Nguyễn Du Toàn Tập, I, nhà xb VH, H, 1996, tr. 536 – 540).

 

[14] Nguyễn Du, thơ chữ Hán, đă dẫn.

[15] Cao Huy Thuần, Hai bài kinh Bát nhă, trang nhà Khuông Việt, khuongviet.com, mục lưu trữ

[16] Truyện Kiều, câu 3240, bản BK&TTK

[17] „Chữ tâm của Nguyễn Du…v.v… Như vậy tâm có tính chất tích cực, thực tiễn, không hoàn toàn giống với tâm gốc Phật vốn là không

[18] Cao Huy Đỉnh, Triết lư đạo Phật trong truyện Kiều, tr. 295/6, trong „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“.

[19] Nguyễn Khuyến b́nh luận: „Có tiền việc ấy mà xong nhỉ, đời trước làm quan cũng thế ru?“

 

[20] Xuân Diệu, Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều,  tuyển tập „Kỷ niện 200 năm Nguyễn Du“, Nhàxb Khoa học xă hội, 1965.

[21] „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du (1765 – 1965)“, nhà xb Khoa học xă hội, 1965.

[22] TTK: „Nhân quả với nghiệp thành ra như cái nợ ḿnh vay, cứ vay vay trả trả không hết. Cái nghiệp cũng thế, có cái nghiệp nặng, có cái nghiệp nhẹ. Mỗi cái nghiệp là cái quả của kiếp trước và lại làm cái nhân cho kiếp sau, rồi cứ măi như thế, trừ khi nào tu được thành Phật, gỡ hết cái nghiệp chướng, th́ cái thần thức mới vào được chỗ tĩnh tịch thường định“, đd, tr. XXXIV

[23] TTK, đd, tr. XXXVII

[24] TTK, Truyện Thúy Kiều, đd, tr. XXXV

[25] Trần Văn Giàu, „Mấy đặc điểm lớn trong nội dung tư tưởng các tác phẩm của nhà thơ dân tộc Nguyễn Du“, trong“ Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du (1765-1965“) đd, tr. 277

[26] Hoàng Ngọc Hiến, Triết lư truyện Kiều trong  „ Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du (1765-1965)“, tr. 279, 281, 284

[27] đd, Cao Hữu Đính, tr. 291/293

[28] đd, Cao Hữu Đính, tr. 294

[29] Đề tài của một công án Thiền nổi tiếng trong Thiền học Trung hoa

[30] Xuân Diệu, „Bản cáo trạng cuối cùng trong truyện Kiều“ trong „Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du“, đd, tr. 204/205

[31] Xuân Diệu, trong „Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du“, đd, tr. 216. „ta hăy đem cái bản cáo trạng cuối cùng ở trong truyện Kiều ấy  mà đổ lên đầu tất cả những xă hội bóc lột áp bức, và tuyên bố: - chúng ta là kẻ tử thù của những xă hội ấy“ 

 

[32] L àm r ơ n ét c ủa ng ư ời vi ết

[33] Xuân Diệu, đd, tr. 208/209

[34] Xuân Diệu, đd, tr. 208/209/210

[35] XD, đd, tr. 215/216

[36] đd, tr. 25

[37] Nguyễn Đăng Thục, „Tâm lư văn nghệ truyện Kiều của Nguyễn Du“, trong „Tuyển tập phê b́nh Đoạn trường tân thanh“ t Ḍng Việt số 13, 2003, tr. 105

[38] đd, tr. 107

[39] đd, tr. 107

[40] Nguyễn Du, „Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh“ câu 182/83 : „Phật hữu t́nh từ bi cứu độ,

                                                                                                    Chớ ngại rằng có có không không“, bản Hoàng Xuân Hăn, Paris 1976, tạ p chí Vă n Học số 2, 1977, ch ùa Trúc Lâm, Paris phóng ảnh 1991

[41] Thiền học

[42] Trong tư tưởng Thiên chúa giáo cũng có nói về buổi liên hoan mừng người con trở về nhà là buổi liên hoan trọng thể nhất, Phúc âm, 15, Saint Luc

[43] P. Schmitzleukel, chủ biên, „Die Idee der Reinkarnation in Ost und West“, (Ư niệm tái sinh của Đông và Tây), Diederich, 1996, tiểu luận: Reinkarnation und spiritueller Fortschritt im traditionellen Buddhismus  (tái sinh và thăng tiến tâm linh trong Đạo Phật truyền thống) tr. 29/56

[44] Dhammapada, Kinh Pháp cú  Lời dạy của Đức Phật.

[45] Công án của Thiền sư Lâm tế, theo Yoshiko Oshima, Zen – Anders denken?, Heidelberg, 1985, 109

[46] Ư niệm này không xa lạ với văn học Thiên chúa giáo, so sánh Phúc âm, đoạn 15,  Saint Luc

[47] Bâng khuâng duyên mời ngậm ngùi t́nh xưa, truyện Kiều, câu 3136

[48] F. Nietzsche, Zur Genealogie der Moral.

[49] Kim Trọng như người t́nh lư tưởng là một đề tài lư thú mà bài viết này không thể triển khai được hết

[50] Giai thoại phật giáo

[51] Nguyễn Du, thơ chữ hán, Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh Thạch đài, đd

[52] Về những cây đàn của Thúy Kiều, có thể đọc Trần Văn Khê, „De quel instrument jouait Thuy Kieu“, trong tập san  „Bulletin de l´école fraincaise d´Extrêm-orient“, nhân 200 năm ngày sinh Nguyễn Du, Maurice Durant.

[53] Orpheùe hay Orpheus : nhaân vaät trong thaàn thoaïi Hy Laïp, laø moät ngheä só coù gioïng ca vaø ñaøn ly caàm raát hay, con cuûa naøng thô Kalliope va Apoll, Orpheùe coù theå duøng tieáng ñaøn vaø lôøi ca meâ hoaëc ngay caû nhöơng con thuù hoang daïi cuơng nhö  soûi ñaù vaø caây coû. Nhôø gioïng ca, Opheùe thuyeát phuïc ñöôïc nhöơng ṿ thaàn ôû döôùi ñiaï nguïc cho pheùp Eurydike ngöôøi vôï thaân yeâu ñaơ cheát trôû laïi coơi traàn vôùi chaøng. Treân ñöôøng ñöa vôï töø ṇ̃a nguïc trôû veà, khoå thay chaøng ñaơ queân lôøi daën cuûa caùc ṿ thaàn khoâng ñöôïc quay sang nh́n Eurydike, khoâng nḥn ñöôïc loøng nhôù mong chaøng quay sang nh́n naøng vaø Eurydike phaûi quay veà ṇ̃a nguïc. 

[54] Hakuin 1686-1769, thiền sư  Nhật bản, sáng lập Tân thiền Lâm tế

[55] Năm âm về nhạc bộ

[56] 5 cơi: ngạ quĩ, súc sanh, người, trời, Phật

[57] Đạo Phật định nghĩa cái tôi hay ngă  gồm ngũ uẩn (năm nhóm tập hợp): sắc thọ tưởng hành thức

[58] Xuân Diệu, đd, tr. 204/205

[59] Xuân Diệu, đd. Tr. 206

[60] Kim Dung, Cô gái đồ long, tiểu thuyết kiếm hiệp

[61] Kinh Kim Cư ơng, Thích Trí Quang dịch, bản Mai Lan Lệ Ấn, Muenchen, 1997, tr.142

[62] B. Russel, Die Philosophie des Abendlandes, ihr Zusammenhang mit der politischen und sozialen Entwicklung, bản dịch Đức ngữ,, Frankfurt a. M. 1950, tr. 638/639. Bản gốc Anh ngữ: Philosophy of Western, nxb gốc George Allen anh Unwin Ltd, London

[63] Theo Nguyễn Đăng Thục, đd, tr. 107. Bài thơ trong Nam Phong tạp-chí số 77 tháng 11 năm 1923.