THƯ GỞI BAN BÁO CHÍ
HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ, SACRAMENTO
Trong ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa 19 tháng 6 năm 2005 vừa qua tại Sacramento, có buổi ra mắt sách tại nhà hàng Tự Do. Tác phẩm ra mắt là cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng. Tôi được ban tổ chức mời tŕnh bày tác phẩm. Trong dịp nầy tôi được biếu một Đặc San Kỷ Niệm Ngày Quân Lực VNCH có tên là Chiến Hữu. Đây cũng là cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị (CTNCT) tại thành phố Sacramento.
Trang b́a sau của Đặc san Chiến Hữu 68 trang nầy đă tạo ra một phản ứng khá xôn xao và phẫn nộ trong cộng đồng người Việt tại địa phương và những nơi tờ báo nầy được gửi đến. Nhất là đối với những người theo đạo Phật th́ phản ứng càng gay gắt hơn v́ nhóm chủ trương có vẻ như biến tướng chiêu bài chống cộng thành hành đông mạ lỵ Phật giáo một cách công khai và thô bạo.
Tóm tắt nội dung trang b́a sau của đặc san Chiến Hữu:
Toàn bộ trang b́a sau khổ 8.5 x 11 của đặc san Chiến Hữu là một bức h́nh chụp cảnh các nhà sư Phật giáo Việt Nam đang tiếp đón phái đoàn tăng nhân Làng Mai của ḥa thượng Thích Nhất Hạnh. Dẫn đầu là một vị sư, theo sau là bốn người trong ban nhạc cổ. Tiếp đến là hoà thượng Thích Nhất Hạnh và sư bà Thích Nữ Chân Không đang chấp tay đi trong tư thế thiền hành. Hai bên có hai nhà sư cầm lọng và theo sau là một đoàn tu sĩ Phật giáo lễ phục chỉnh tề cùng Phật tử tháp tùng nghinh lễ. Tất cả đều đang bước đi trong dáng thiền hành của một nghi thức cung đón long trọng thường thấy trong sinh họat Phật giáo Việt Nam.
Ban Báo Chí của Hội CTNCT Sacto hoặc đă diễn dịch (interpretation), hoặc lấy nguyên bản (copy), hoặc trích (excerption) lời minh họa cho một nghi thức tôn giáo long trọng thành một hoạt cảnh "tiền dâm hậu thú" ... ! Xin mô tả tóm lược nội dung của b́a báo như sau:
Ngoài lề phía trên bức h́nh chụp cảnh nghi lễ Phật giáo vừa nêu trên, có in hàng chữ đậm: "ĐÁM CƯỚI TRÊN ĐƯỜNG QUÊ" ! Và ngay lề phía dưới bức tranh cũng in hàng chữ đậm: "CHÚ RỂ NHẤT HẠNH (dấu X), cô dâu CHÂN KHÔNG (dấu XX)" !
Và tiếp ngay sau đó là "bài thơ" lục bát như sau:
Vinh quy bái tổ về làng
Lọng anh che trước, lọng nàng che sau
Chàng ơi chớ vội bước mau
Tiền dâm hậu thú mâm cau tŕnh làng
Hồ sang xế cống hồ sang
Xuất gia ṭng phụ "Lọng vàng sóng đôi"
Cà Cuộc
Phía dưới bài thơ nầy chú thích thêm: Phụ (ṭng phụ) ở đây không có nghĩa là "cha". Và ghi xuất xứ là (Trích báo Con C̣ số 13).
H́nh b́a trang đầu là BỘ MẶT và h́nh b́a trang sau là XƯƠNG SỐNG của một tờ báo. "Cơ quan ngôn luận chính thức của hội CTNCT Sacto" (?!) đă chọn h́nh ảnh và mớ chữ bùi nhùi, sai be bét tiếng Việt (xàng xê viết thành "sang xế"); mạ lỵ truyền thống văn hóa dân tộc (bóp méo h́nh tượng cao đẹp vinh quy bái tổ thành cảnh bẩn thỉu tiền dâm hậu thú) trên đây để làm xương sống!
q
Là một người có cầm bút viết lách lai rai, tôi hết sức thông cảm với tâm trạng và hoàn cảnh của những người làm báo, viết báo tài tử hay chuyên nghiệp. Nhất là những người viết báo đặc san, thường họ phải tập trung hết th́ giờ và công sức để cố viết cho xong một bài báo đúng thời hạn nộp bài. Bởi thế, tôi không ngạc nhiên khi điện thoại tham khảo ư kiến của các vị chức sắc trong ban chấp hành hội CTNCT Sacramento như đương kim chủ tịch Hội đồng Quản Trị Tôn Thất Sang, phó chủ tịch HĐQT Ngô Viết Trọng (đồng thời cũng là những cây viết chủ lực của Chiến hữu) và được trả lời là họ chỉ viết bài; ngoài ra, không hề hay biết ǵ về vụ "B́a Sau" của đặc san Chiến Hữu cả.
Để giữ tính khách quan, tôi tự chế để khỏi dưa ra những nhận định vội vàng. Tôi chỉ tŕnh bày sự kiện, c̣n tất cả tùy sự phán xét sáng suốt của công luận.
Và cũng để công luận có thêm tài liệu tham khảo, tôi xin tŕnh bày về "chú rể" Nhất Hạnh được nêu lên trong trang b́a Chiến Hữu nầy là ai.
q
Thầy Thích Nhất Hạnh là một tu sĩ Phật giáo xuất thân từ Huế.
Với một bối cảnh tôn giáo như thế, trong bài viết nầy, người viết xin được dùng danh xưng "Thầy" rất gần gũi thay v́ phải dùng những danh từ tôn xưng xa lạ với truyền thống Phật giáo khi nói về thầy Thích Nhất Hạnh và quư tu sĩ Phật giáo khác.
Thầy Thích Nhất Hạnh là một trong những tu sĩ Phật giáo Việt Nam được cộng đồng tôn giáo thế giới biết đến nhiều như: Thầy Thích Thiên Ân, thầy Thích Minh Châu, Thầy Thích Tuệ Sỹ, Ni sư Thích Nữ Trí Hải...
Năm 1966, thầy Nhất Hạnh rời Việt Nam: Hoa sen trong biển lửa!
Năm 2004, thầy Nhất Hạnh về Việt Nam: Biển lửa giữa hoa sen?!
Bốn mươi năm: Một chặng đường lửa dậy!
Kinh Pháp Hoa nói về lửa: "Ba cơi không an, chẳng khác nhà lửa". Lửa tham sân si; lửa nghi hoặc chấp trước; lửa kiêu mạn; lửa ái dục... cứ ngấm ngầm ngày đêm thiêu đốt tâm thức của chúng sanh.
Lửa tam muội, lửa ta bà, lửa từ bi, lửa hận thù, lửa vô minh, lửa khai sáng và lửa duyên nghiệp... vẫn trùng trùng dấy lên trong từng nhấp nháy của cuộc sống. Có những ngọn lửa dập tắt được, những vẫn có những ngọn lửa vô h́nh không dập tắt được. Người ta vẫn phải sống với lửa hàng ngày. Con người tồn tại v́ con người biết sống với lửa. Không để bị lửa đốt cháy mà biến lửa thành một hơi ấm, một phương tiện thiện xảo cho đời sống thể chất lẫn tinh thần.
Hoa sen là một b́ểu tượng của tinh thần Phật Giáo. Đó là ư niệm "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn". Đó là h́nh ảnh bàn tay mở ra hứng lấy những khổ đau, hận thù, sinh diệt triền miên. Nếu chỉ có mùa đông lạnh lẽo mà không có lửa hạ, sẽ không có hoa sen. Nếu không có khổ đau của chúng sinh th́ đức Phật và đạo Phật không có lư do ra đời và tồn tại để giải bớt khổ đau. V́ thế, h́nh tượng hoa sen trong biển lửa là h́nh ảnh dấn thân của người Phật tử giữa cuộc đời đầy tương tranh và đau khổ. Biển lửa giữa hoa sen là biểu tượng của sự trang bị tinh thần và trí tuệ Phật tánh, bồ tát hạnh, sẵn sàng dấn thân vào đau khổ để diệt mầm đau khổ và tiếp cận với tương tranh để hóa giải tương tranh.
Vào những năm đầu thập niên 1960, bên cạnh đời sống tu sĩ, thầy Nhất Hạnh c̣n là một nhà văn, nhà thơ có khuynh hướng cải cách và gần gũi với tuổi trẻ qua h́nh thức mang triết lư tư tuởng Phật giáo và nếp sống thiền vị vào những tác phẩm sáng tạo văn chương. Những tác phẩm văn học của thầy Nhất Hạnh như T́nh Người (bút hiệu Tâm Quán), Nẽo Về của Ư, Nói Với Tuổi Hai Mươi, Bông Hồng Cài Áo, Đạo Phật Hiện Đại Hóa... đă gây một tiếng vang và có tác động tích cực vào đại chúng Việt Nam trong nội bộ Phật giáo cũng như ngoài xă hội, đặc biệt là giới trí thức và tuổi trẻ miền Nam đương thời.
Cuộc chiến tranh Việt Nam càng ngày càng băo liệt trong nước, th́ tiếng nói phản chiến kêu gọi hoà b́nh của cộng đồng quốc tế càng tăng cường độ ở các nước châu Mỹ và châu Âu. Ngay cả Đức Giáo Hoàng Paul VI, khi đề cập đến cuộc chiến Việt Nam, cũng đă lên tiếng trong Hội trường Liên Hiệp Quốc ở New York: "Hăy ngưng chiến tranh. Đừng đánh nhau nữa, đừng bao giờ để chiến tranh tái diễn!" ( Stop the war. No more war, never again war).
Sáng lập trường Trường Thanh Niên Phụng Sự Xă Hội năm 1965 là một khuynh hướng dấn thân rất mới của tuổi trẻ theo kiểu Kiboutz của Do Thái. Đó là trường huấn luyện thanh niên thiện nguyện với chiều hướng phục vụ làng xă Việt Nam bằng sức bật, kiến thức, tài năng và tấm ḷng của tuổi trẻ, chung tay xây dựng đất nước khi chiến tranh chấm dứt. Bên cạnh đó làø những tác phẩm văn chương mang tiếng nói tha thiết kêu gọi ḥa b́nh của thầy Nhất Hạnh, một cách vô h́nh chung, bị coi như một sự cổ xúy và đồng lơa với phong trào phản chiến đang nổ ra trên toàn thế giới và tại các thành thị miền Nam.
Tháng 5 năm 1966, thầy Nhất Hạnh được đại học Cornell ở Mỹ mời diễn thuyết ḥa b́nh. Với tuổi 39, đây là bước khởi đầu cho những loạt diễn thuyết và gặp gỡ các nhân vật thời danh như Robert McNamara, Eugene McCarthy, Martin Luther King và được hội kiến với đức Giáo Hoàng Paul VI vào ngày 16 tháng 7 năm 1966. V́ những cuộc vận động hoà b́nh nầy, Chính phủ miền Nam không cho thầy Nhất Hạnh về lại nữa. Ở ngoại quốc, lập trường chính trị trong công cuộc vận động ḥa b́nh của thầy Nhất Hạnh phối hợp với những nhân vật nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực khác nhau tại Âu Châu cũng như Mỹ Châu, được báo chí ngoại quốc nhận định như sau: "Thích Nhất Hạnh và những thành viên Phật giáo vận động trong phong trào ḥa b́nh không về phe Cộng sản ở miền Bắc, cũng không về phe chống Cộng ở miền Nam. Họ cũng không mưu cầu một quyền lực chính trị nào cho chính họ." (Thich Nhat Hanh and his fellow Buddhist activists sided neither with the communists north nor the anti-Communist south. Nor did they harbour desire for political themselves. Stephen Batchelor. TCN. GD 2001). Trong số những lời diễn thuyết, những bài viết kêu gọi ḥa b́nh của thầy Nhất Hạnh th́ tác phẩm Hoa Sen Trong Biển Lửa (Lotus in the Sea of Fire) là tiếng kêu mạnh mẽ và thống thiết nhất. Tác phẩm nầy ra đời vào mùa Xuân năm 1966, được một nhà Thần học Thiên Chúa giáo nổi tiếng của Mỹ là Linh mục Thomas Merton viết lời tựa và Alfred Hassler viết lời bạt. Tác phẩm nầy được dịch ra nhiều thứ tiếng nhưng bản dịch Việt ngữ lại bị cấm lưu hành tại Việt Nam thời bấy giờ.
Đối với thế lực cầm quyền Việt Nam, trước và sau 1975, thầy Nhất Hạnh vẫn là người đứng bên lề. Nghĩa là chẳng có một bên nào coi thầy Nhất Hạnh là "người của ta" cả. Mỗi phía đều có lư do nội tại của nó, nhưng nh́n một cách khách quan và công bằng th́ cho tới ngày 24-1-2005, ngày phái đoàn Phật giáo Làng Mai về Việt Nam, th́ thầy Nhất Hạnh, sau gần 40 năm xa xứ, vẫn giữ được một thái độ độc lập tương đối với các thế lực tôn giáo cũng như chính trị trong và ngoài nước mà chủ bút Alan Wesser của tạp chí Religious Freedom Monitor tháng 2-2005 đă lên tiếng: "Giữa gọng kềm của sự cực đoan, Thích Nhất Hạnh và những người theo ông ta vẫn giữ được thế độc lập." (In the grip of extremes, Thich Nhat Hanh and his follwers have remained intact.) Sđd, Tr.145.
Nói lên điều nầy, chủ tâm người viết chỉ mong nói đến "Thích Nhất Hạnh như là Thích Nhất Hạnh". Nghĩa là tránh quan điểm phong thánh hay "tả quỷ" dễ dăi để tâng bốc quá đà hay miệt thị đầy định kiến đối với một nhân vật nào đó xuất phát từ sự chủ quan đầy cảm tính v́ sự ngưỡng mộ hay tâm lư chống báng nặng cảm tính nhất thời.
Trong mắt nh́n của những người t́m hiểu khách quan, bản thân và sự nghiệp của thầy Nhất Hạnh được ghi nhận như sau:
Đứng về mặt tôn giáo, thầy Nhất Hạnh là một nhà tu; một nhà nghiên cứu Phật học có chiều sâu với một phương pháp luận kết hợp hài ḥa giữa tính lô-gích phương Tây và tính trực cảm phương Đông.
Đứng về mặt văn học nghệ thuật, thầy Nhất Hạnh là một nhà văn, một nhà thơ. Đặc biệt thầy Nhất Hạnh là một tác giả Việt Nam đầu tiên ở nước ngoài đă viết cả trăm tác phẩm văn chương và khảo luận về tôn giáo, xă hội, triết học bằng tiếng Việt mà trong đó đă có đến vài chục tác phẩm viết trực tiếp hay được dịch ra bằng tiếng Anh. Trong số sách bằng tiếng Anh về lĩnh vực tôn giáo được xuất bản lưu hành khấp thế giới, có khoảng 10 cuốn sách tiếnh Anh của thầy Nhất Hạnh thuộc và hàng sách bán chạy (best seller).
Để thẩm định giá trị hành động hay tác dụng ư thức của một nhân vật, một con người th́ điều cần yếu trước tiên phải có là sự công bằng và cách nh́n tỉnh táo. Sự tâng bốc hay bài xích cá nhân mang tính cực đoan, thô bạo và bảo thủ sẽ trở thành mồi lửa rơm bùng lên đốt cháy một cách nhanh nhất giá trị và sự đáng tin cậy của nhận định chính nó. Trong chiều hướng đó, thử theo dơi và ghi nhận những nét nổi bật trong chuyến đi về thăm Việt Nam của thầy Nhất Hạnh như thế nào.
Ngày 11 tháng 01 năm 2005, thầy Nhất Hạnh cùng với tăng thân Làng Mai rời Pháp về Việt Nam trong một chuyến thăm viếng và truyền pháp kéo dài 3 tháng (12-01-2005 đến 11-4-2005). Đây không đơn giản là một cuộc hành hương hay một chuyến viếng thăm tập thể tuỳ nghi hay tùy thích của cả hai phía Việt Nam và Làng Mai mà là kết quả của một sự cân nhắc lợi hại cho cả hai phía. Một bên là thế lực lănh đạo đương quyền và một bên là chức sắc tôn giáo. Bởi vậy, ngay bước đầu tiên khi trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế nêu lên mối quan ngại rằng, nhà cầm quyền Việt Nam có thể lợi dụng chuyện viếng thăm nầy để tuyên truyền cho quyền tự do tôn giáo của họ, thầy Nhất Hạnh đă trả lời rằng: "Có thể (bị lợi dụng) như thế lắm. Nhưng cách suy nghĩ của tôi không bị ảnh hưởng bởi các chuyện đó." Trả lời về sự nghi ngờ thiện chí của phía Việt Nam, thầy Nhất Hạnh cũng đă nói với báo Time : "Tôi biết chúng tôi sẽ bị quan sát bởi nhiều người -- đặc biệt bởi-- công an. Nhưng chúng tôi không bận tâm bởi chúng tôi tin công an cũng có Phật tánh. Nếu bạn phát ra niềm vui, yêu thương, cảm thông, ḥa b́nh và an lạc, họ cũng có thể cảm thụ và hưởng được lợi ích từ đó." (Time 24-01-05. A Long Journey Home của Kay Johnson)
Nội dung và tinh thần cơ bản của các buổi giảng pháp, các khóa tu học của thầy Nhất Hạnh và tăng thân làng Mai trong suốt 3 tháng du hành khắp cả ba miền Bắc Trung Nam không có ǵ khác lạ với tinh thần thiền Làng Mai và sinh hoạt tu học do Thầy hướng dẫn tại Pháp và các nước ngoài.
Đến đây, tưởng cũng nên dừng lại một chút để điểm qua khái niệm Thiền học truyền thống Việt Nam và Thiền Làng Mai của thầy Nhất Hạnh có ǵ khác biệt...
Vài nét về Làng Mai và "Thiền Làng Mai"
Ngay khi có tin thầy Nhất Hạnh và phái đoàn tăng thân làng Mai về thăm viếng và mở những buổi pháp thuyết và pháp đàm tu học tại Việt Nam, giới Phật tử tại quê nhà cũng như khắp năm châu phản ứng lạc quan cũng nhiều mà bi quan cũng lắm. Giới lạc quan th́ cho rằng, thầy Nhất Hạnh sẽ là một thiện duyên để góp phần khơi ḍng nguồn suối sức mạnh hóa giải vốn tiềm tàng từ bên trong nội bộ Phật giáo. Từ đó, Phật tử xuất gia cũng như tại gia có thể tùy duyên phân thân h́nh thức nhưng tinh thần th́ vẫn ḥa hợp. Giới bi quan th́ cho rằng, sự về thăm quê hương của thầy Nhất Hạnh chỉ có lợi cho sự tuyên truyền của cộng sản Việt Nam nhằm rêu rao về một ảo tưởng tự do tôn giáo chứ chẳng mang lại lợi ích ǵ cho Phật giáo. Sự hoài nghi không vọng động là một biểu hiện ư thức lành mạnh tạo sự quân b́nh cho ḍng tri thức của xă hội có điều kiện tiến hóa. Ngược lại, chỉ có sự cực đoan và cuồng tín - tiêu biểu là sự khen hoặc chê quá đà và vội vă, thậm chí đôi khi thô thiển trong ngôn từ và thô bạo trong luận điểm - mới tàn phá và chận đứng ḍng tiến hóa cần thiết của tri thức mà thôi.
Trong khi sinh hoạt của thầy Nhất Hạnh bị "cấm vận" trong nước từ trước 1975 th́ thầy đă kiên tŕ t́m một hướng đi riêng từ bên ngoài đất nước.
Một hướng đi mà nhân loại đang cần và trong hoàn cảnh nào cũng được tôn vinh, đó là con đường của t́nh thương và tinh thần đấu tranh cho lẽ phải để hóa giải hận thù bằng phương pháp không bạo động. Mahatman Gandhi, Martin Luther King, Đạt Lai Lạt Ma, Desmond Tutu... là những nhà tranh đấu đ̣i tự do và quyền làm người cho khối người bị áp bức bằng phương tiện bất bạo động mà nhân loại, không phân biệt mầu da hay chủng tộc, hằng ngưỡng mộ. Thầy Nhất Hạnh đă theo con đường của những nhà đấu tranh bất bạo động đi trước bằng môt tinh thần uyển chuyển và sáng tạo rất Đông phương, đặt căn bản trên tinh thần cốt tủy từ bi, trí tuệ của Phật giáo. Làng Mai được thành lập trong tinh thần tu dưỡng và khai sáng đó.
Làng Mai là một trung tâm thiền tập tọa lạc tại miền Tây Nam nước Pháp được h́nh thành vào đầu năm 1982.
Những năm đầu, nhiều cây hồng ăn trái (persimon) đă được trồng lên cho nên trung tâm thiền tập này được gọi là Làng Hồng. Nhưng sau đó, 1250 cây mai thuộc loại pruniers d'Agen, rất ngọt và đậm đà, đă được trồng bằng tiền túi của thiếu nhi gốc Việt Nam về tu học, cho nên Làng Hồng đă đổi tên thành Làng Mai - tiếng Pháp là Village des pruniers , tiếng Anh là Plum Tree Village, gọi tắt là Plum Village. Tên chữ của Làng là Đạo Tràng Mai Thôn.
Mấy năm đầu th́ Làng Mai chỉ có hai xóm: Xóm Thượng và Xóm Hạ. Nhưng v́ nhu cầu càng ngày càng lớn của thiền sinh, làng Mai mở thêm các xóm như: Xóm Thượng, Xóm Hạ, Xóm Trung, Xóm Đoài và Xóm Mới. Xóm Thượng đă trở thành chùa Pháp Vân, tên chữ là Thệ Nhật Sơn Pháp Vân Tự . Xóm Hạ đă trở thành chùa Cam Lộ, tên chữ là Mai Hoa Thôn Cam Lộ Tự . Xóm Mới đă trở thành chùa Từ Nghiêm, tên chữ là Thiên Ư Thôn Từ Nghiêm Tự . Xóm Mới có thêm Xóm Mới Đầu Thôn và Xóm Mới Lưng Đồi để đủ cung ứng nơi cư trú cho thiền sinh tới thực tập càng lúc càng đông. Ngoài ra, Xóm Mới cũng mới có thêm một ngọn đồi và một con suối gọi là Đồi Dương Xuân và Suối Dương Xuân, một niềm vui lớn cho các vị thường trú. Chùa Pháp Vân là thiền viện của các vị xuất gia nam, chùa Từ Nghiêm là thiền viện của các vị xuất gia nữ. Trong số các thầy và các sư cô, có nhiều vị gốc Anh, gốc Pháp, gốc Ḥa Lan, gốc Mỹ, gốc Ái Nhĩ Lan, Úc... Làng Mai cũng là trú sở của Viện Cao Đẳng Phật Học, nơi đào tạo các vị giáo thọ xuất gia và tại gia. Tại đạo Tràng Mai Thôn, ngoài chúng xuất gia, cũng có chúng tại gia thường trú, tu học rất tinh chuyên.
Mỗi năm Đạo Tràng Mai Thôn tổ chức những khóa tu mùa Hè, mùa Thu, mùa Đông, v.v... Số thiền sinh về tham dự hàng năm có thể lên tới nhiều ngàn người. Đa số là người ngoại quốc, tới từ khoảng ba mươi quốc gia. Đạo Tràng Mai Thôn đă trở nên một thiền viện quốc tế. Tại Làng Mai, thầy Nhất Hạnh đích thân giảng dạy và hướng dẫn các khóa tu học cùng với sự phụ tá của gần hai chục vị giáo thọ thường trú, phần lớn là giới xuất gia. (Theo Làng Mai Website)
Với sự ra đời của làng Mai, thầy Nhất Hạnh đă tiếp nối phát huy tinh thần đại chúng hóa của Phật giáo Việt Nam, đưa tinh hoa của Thiền tông và Tịnh độ đến gần với mọi người không phân biệt chủng tộc hay hoàn cảnh xuất thân.
Đối với xă hội Âu Mỹ, đời sống đua chen vật chất và ṿng quay quá nhanh của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đă làm cho tinh thần cũng như thể chất con người thường xuyên lắc lư theo đà quán tính của cuộc sống hàng ngày. Sự ra đời của máy vi tính, điện thọai cầm tay và phương tiện truyền thông tinh vi, nhanh như ánh sáng khiến cho con người mất chỗ trú ẩn. Con người bị đào bới tận gốc rễ từ trong nếp suy tư, giữa ư thức và vô thức. Cả vũ trụ vật lư nầy đều bị đào xới và ô nhiễm. Núi, rừng, sông, biển... cùng lắm th́ cũng chỉ là chỗ trú thân và trú chân chứ không thể nào là chỗ an trú của tinh thần. Thiền bỗng trở thành một giải pháp. Đa số, người Âu Mỹ ngồi Thiền không phải để t́m sư giải thóat thành Phật mà đểà thành Người, một con ngườn an lạc, đỡ bị bức xúc hay căng thẳng. Thế thôi.
Bên cạnh Thiền Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Hoa, Tây Tạng, Đài Loan, Đại Hàn... th́ Thiền học Việt Nam theo mô thức Làng Mai (cũng gọi là Thiền Làng Mai) cũng đước hàng ngàn, hàng vạn người Âu Mỹ quan tâm t́m hiểu và theo học. Trong hiện trạng sinh hoạt văn hóa và tâm linh tại các nước Âu Mỹ, phải khách quan để thấy rằng, thầy Nhất Hạnh là một trong những hiện tượng hiếm hoi về sự thành công của một nhà sư Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng thế giới. Ttrong gần 40 năm qua, thầy Nhất Hạnh đă liên tục mở những khóa tu học cho cả Việt Nam và người nước ngoài.
Đặc biệt tại Mỹ, những buổi nói chuyện về các đề tài Thiền học và cách ứng xử với cuộc sống hàng ngày trước mắt bằng tinh thần Thiền học do thầy Nhất Hạnh thuyết giảng và hướng dẫn tại nhiều nơi trên đất Mỹ thường thu hút đông đảo người nghe. Những hội trường rộng mênh mông không c̣n chỗ trống. Nét đặc trưng của các khóa tu học hay thuyết giảng về Thiền của thầy Nhất Hạnh là tính chất đơn giản và thực dụng, rất hợp với căn cơ của người Mỹ và người Việt trong xă hội công nghiệp Âu Mỹ. Thính chúng không cần phải có một căn bản giáo lư hay một quá tŕnh tu học vẫn theo dơi và hiểu được.
Từ một cơ sở lư thuyết cao siêu, trừu tượng và đặt trọng tâm vào tự lực tự chứng của Thiền học, thầy Nhất Hạnh đă đưa ra những phép tu, phương pháp thực hành và lề lối suy niệm rất đơn giản vào đại chúng.
Sau đây thử ghi lại một trong năm bài tập thiền tập có hướng dẫn rất dễ làm theo phương pháp của thầy Nhất Hạnh. Ai cũng có thể tập thử để thấy tính chất thực tiễn của thiền. Bốn bài đầu có tác dụng nuôi dưỡng. Bài thứ năm có tác dụng trị liệu, tất cả được trích trong sách Sen Búp Từng Cánh Hé.
Bài tập thứ nhất:
1. Thở vào, tâm tĩnh lặng. Thở ra, miệng mỉm cười. Tĩnh lặng. Mỉm cười.
2. Thở vào, an trú trong hiện tại. Thở ra, giây phút đẹp tuyệt vời. Hiện tại. Tuyệt vời.
Nhiều người bắt đầu thực tập thiền bằng bài tập này. Có nhiều người dù đă thực tập bài tập này trong nhiều năm vẫn c̣n tiếp tục thực tập, bởi v́ nó tiếp tục đem tới nhiều lợi lạc cho hành giả.
Thở vào, ta chú tâm tới hơi thở: Hơi thở vào tới đâu ta cảm thấy tĩnh lặng tới đó, giống như khi ta uống nước mát; nước đi tới đâu th́ ruột gan ta mát tới đó. Trong thiền tập, hễ tâm tĩnh lặng th́ thân cũng tĩnh lặng, bởi v́ hơi thở có ư thức đem thân và tâm về một mối. Khi thở ra ta mỉm cười, để thư giăn tất cả các bắp thịt trên mặt (có khoảng 300 bắp thịt trên mặt ta). Thần kinh ta cũng được thư giăn khi ta mỉm cười. Nụ cười vừa là kết quả của sự tĩnh lặng do hơi thở vào đem lại, mà cũng vừa là nguyên nhân giúp ta trở nên thư thái và cảm thấy sự an lạc phát hiện rơ ràng thêm. Hơi thở thứ hai đem ta về giây phút hiện tại, cắt đứt mọi ràng buộc với quá khứ và mọi lo lắng về tương lai, để ta có thể an trú trong giây phút hiện tại. Sự sống chỉ mặt trong giây phút hiện tại, v́ vậy ta phải trở về giây phút ấy để tiếp xúc với sự sống. Hơi thở này giúp ta trở về sự sống chân thật. Biết ḿnh đang sống và biết ḿnh có thể tiếp xúc với tất cả mọi mầu nhiệm của sự sống trong ta và xung quanh ta, đó là một phép lạ. Chỉ cần mở mắt hoặc lắng nghe là ta tiếp nhận được những mầu nhiệm của sự sống. V́ vậy cho nên giây phút hiện tại có thể là giây phút đẹp nhất và tuyệt vời nhất, nếu ta thực tập sống tỉnh thức bằng hơi thở. Ta có thể thực tập hơi thở thứ nhất nhiều lần trước khi đi sang hơi thở thứ hai. Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu: trong thiền đường, trên xe lửa, trong nhà bếp, ngoài bờ sông, trong công viên, trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi và ngay cả lúc đang làm việc (Theo Website Làng Mai)...
Phật giáo Việt Nam hôm nay
Lịch sử đạo Phật đă chứng minh rằng, pháp nạn do tác động của hoàn cảnh và thế lực khách quan, cho dù bạo liệt đến đâu, cũng dễ t́m ra phương thức giải trừ. Nhưng pháp nạn do tác động nội tại "sư tử trùng thực sư tử nhục" sẽ tạo nên một sự khủng hoảng thật xót xa:
Môi hở th́ lạnh tới răng.
Trùng trong sư tử tự ăn thịt ḿnh.
Sự bất đồng nội bộ thường là nguyên nhân của sự phân hóa có khi vô phương hóa giải nếu không có một nguồn suối sức mạnh dấy lên và tỏa chiết từ bên trong.
Hiện trạng Phật giáo Việt Nam trong những năm qua - ít nhất nữa th́ cũng về mặt h́nh thức và tổ chức - đang đứng giữa (theo khuynh hướng bi quan) hay đang đứng bên bờ (khuynh hướng lạc quan) của pháp nạn. Pháp nạn Phật giáo Việt Nam hiện nay là tứ chúng chưa có điều kiện đồng tu và tăng già chưa có điều kiện ḥa hợp. Hai khuynh hướng chư tăng thân chính quyền và chống chính quyền đang đóng cửa nh́n nhau, chưa t́m ra một mảnh đất chung, khách quan hợp lư để hóa giải những khác biệt cơ bản của nguyên nhân phân hóa. Tứ chúng, như một "phản ứng có điều kiện" tất nhiên, là theo khuynh hướng thầy tổ của ḿnh. Vô h́nh chung, quần chúng Phật tử tự động phân hóa theo "phía bên nầy hay phía bên kia." Sự phân hóa khi âm thầm, khi hiển lộ đă kéo dài hơn 20 năm.
Phật giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước đang lâm vào cảnh phân hóa. Sự thay đổi về chính trị và thế quyền luôn luôn có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sinh họat tôn giáo và giáo quyền. Phật giáo trong nước chia làm hai khối: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) thành lập từ năm 1964 và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) thành lập từ năm 1982, hay c̣n gọi là Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, Phật giáo thuộc Mặt trận Tổ quốc (Cũng có người gọi là "Phật Giáo Quốc Doanh" ). Về mặt cấu trúc, hệ thống thế quyền nhà nước Việt Nam đương đại có 3 cơ chế là: Đảng cộng sản, chính quyền cộng sản và Mặt trận Tổ quốc. Hệ thống giáo quyền Phật giáo có 3 cơ sở: Phật, Pháp, Tăng gọi là Tam Bảo. Nhà nước Việt Nam đ̣i hỏi tất cả các đoàn thể quần chúng và tôn giáo trong nước đều phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc. Nghĩa là các tổ chức tăng đoàn Phật giáo cũng giống như tất cả các đoàn thể quần chúng khác, phải nằm trong Mặt trận Tổ quốc. Quư thầy và sư cô trong hệ thống Giáo hội Phật giáo đ̣i hỏi Giáo hội và Tăng đoàn phải được tổ chức và sinh họat độc lập, đứng ra ngoài Mặt trận Tổ quốc. Đấy chính nguyên nhân trực tiếp của sự phân chia Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thành hai khối khi các Thầy và Sư cô chọn lựa một trong hai thái độ làm phương tiện tu tŕ" (1) Hoặc là nhất thiết phải đ̣i hỏi cho được thế độc lập của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam đứng ngoài cơ chế chính quyền, hoặc là (2) chấp nhận một cơ chế chung áp dụng cho mọi tôn giáo và đoàn thể trong nước. Quư Thầy và Sư cô chọn thái độ độc lập với nhà cầm quyền Việt Nam đứng vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Quư Thầy và Sư cô chọn thái độ thứ hai mặc nhiên đứng vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Trên thực tế th́ hầu hết quư Tăng Ni và Phật Tử chọn một thái độ tu hành thầm lặng. Một sự thầm lặng tích cực trong tinh thần "tùy duyên bất biến" của Phật giáo, xả bỏ những hệ lụy nhân sinh và chính trị để an tịnh tiến bước trên đường Đạo. Như trong thư của thầy Thích Viên Định (GHPGVNTN) gửi thầy Thích Nhất Hạnh đề ngày 19-01-05 cũng đă xác định khuynh hướng nầy:" Như chư tăng ở Già Lam - G̣ Vấp, hơn 70, 80 vị, cùng ở chung, cùng ăn chung, cùng tụng kinh, bố-tát chung, cùng hoà hợp, nhưng trong đó có vị theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, có vị theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam của Mặt-trận, có sao đâu. Chùa Giác Hoa ở B́nh Thạnh cũng vậy, trên 40 tăng chúng cùng tu học, có vị này vị khác chứ có theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hết đâu, nhưng vẫn hoà hợp bố tát, có chia rẽ ǵ đâu."
Trong lĩnh vực tôn giáo và tâm linh, sự phân hóa không đồng nghĩa với vết cắt h́nh tướng vật lư. Khi một vết cắt đă có, nếu nó không hiện diện bên ngoài th́ nó sẽ lắng vào bề sâu. Người theo đạo Phật nói chung, sau những biến cố của đất nước và đạo pháp, nhất là trong thời buổi mà các phương tiện truyền thôâng đại chúng quá nhanh chóng và tinh xảo nầy, không ai c̣n dễ dăi "giao khoán" đức tin Tam Bảo của ḿnh vào tay bất cứ một thế lực nào. Ngoại trừ những nhóm mưu cầu đặc quyền đặc lợi (interest groups) từ tôn giáo, Phật Tử Việt Nam đều cung kính đảnh lễ chư Tăng, Ni đạo cao, đức trọng. Đạo đức Phật giáo đích thực không chấp tướng, chấp tánh; không căn cứ vào thành quả thế tục đầy giả tướng và phi Phật giáo như chùa to, chức lớn, thế lực, danh vị tôn xưng, đông người bảo hộ để đánh giá sai lầm về một đối tượng nào cả, nhất là đối tượng thuộc hàng cao tăng thạc đức trong hàng ngũ lănh đạo Phật giáo. Sư tương tranh và phân hóa trong cuộc đời thường đă quá sức chịu đựng của người Phật tử nên họ t́m đến Đạo như một chỗ dựa tinh thần. Họ là những ḍng sông mệt mỏi v́ đă trải qua nhiều sóng gió, giờ muốn t́m về với biển khơi an lạc thái hoà. Cuộc đời mỗi người quá ngắn và sự kiên nhẫn của mỗi người đều có giới hạn để họ có đủ nhiệt t́nh đối diện với một "Pháp Nạn tự thân" ngay trên con đường học Đạo.
Phật tử trong nước cũng như ngoài nước đă trực hay gián tiếp biểu tỏ 3 thái độ: (1) Theo Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, (2) theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam , hoặc (3) bên nào cũng theo hay không theo bên nào cả mà tự lập nhóm chyên tu hay cá nhân tu hành độc lập tại gia.. Nếu không có một người dân nào muốn làm dân một non sông hận thù và chia cắt th́ cũng chẳng có một người Phật tử nào lại muốn quư Tăng Ni trong hàng giáo phẩm quay lưng lại với nhau.
Cư sĩ Nguyên Trung trong bài viết: "Tâm Lư Tiểu Xảo và Tinh Thần Hóa Giải của Phật Giáo Việt Nam", đăng ở tạp chí Thiện Hữu, viết:
"Trong suốt 20 năm qua, Phật giáo Việt Nam như một đại gia đ́nh với hai tuyến nhân vật khác nhau. Những thành viên trong gia đ́nh tránh mặt nhau hay vạn bất đắc dĩ phải gặp gỡ nhau một cách gượng ép. Đạo Phật vẫn phát triển và sinh hoạt theo ḍng sinh mệnh của dân tộc và con người. Song, người ta vẫn tự hỏi rằng, từ trong căn cơ và bản chất, đạo Phật là đạo Hóa Giải. Tinh hoa của tinh thần hóa giải đó đă vượt thắng những chặng đường pháp nạn gian lao nhất trong suốt 2500 năm qua. Tại sao 20 năm qua sự phân cách vẫn cứ c̣n giữ nguyên ranh giới? Chờ đợi một hoàn cảnh thuận lợi, một chế độ chính trị thích hợp, một quyền lực từ bên ng̣ai để "hoá giải" cho Phật Giáo Việt Nam hay Phật Giáo Việt Nam có đủ năng lực nội tại để hóa giải BIỂN LỬA GIỮA HOA SEN trong bất cứ t́nh huống và hoàn cảnh nào?"
Câu hỏi tự nó không đợi một câu trả lời mà cần một sự trầm tư suy nghĩ...
MỘT GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỢP NHẤT vẫn là khát vọng chính đáng của tất cả hàng Phật tử xuất gia cũng như tại gia.
Thầy Nhất Hạnh và chuyến viếng thăm Việt Nam.
Giữa ḍng suy tư và trong một ḥan cảnh phân hóa vừa tŕnh bày ở trên, thầy Nhất Hạnh dẫn 190 Tăng thân Làng Mai từ Pháp về Việt Nam trong một chuyến viếng thăm 3 tháng vừa mang tính chất hành hương, vừa mang tính chất thuyết giảng và tu học, vừa mang tính chất thăm viếng.
Người ta sẽ rất ngạc nhiên nếu không có phản ứng nào từ phía quần chúng trong cũng như ngoài nước về chuyến viếng thăm nầy. Và, người ta sẽ ngạc nhiên nhiều hơn nếu chỉ có một phản ứng xuôi chiều, nghĩa là chỉ có ủng hộ hay chống đối. Người ở trong cũng như người ở ngoài đạo Phật hằng quan tâm đến sinh họat văn hóa và xă hội đều muốn biết và muốn nghe diễn tiến và tác dụng của chuyến đi nầy một cách khách quan và trung thực. Tôn giáo, tự bản chất, là một hiện thể ra đời để làm giảm bớt sự thống khổ về tinh thần của nhân loại. Thế giới nầy lại là một hợp thể từ đơn giản đến phức tạp; từ thấp đến cao. V́ vậy, con đường của tôn giáo là con đường trung đạo. Sự cực đoan trong tôn giáo sẽ đi ngược lại tinh thần tôn giáo. Thay v́ tôn giáo ra đời để hóa giải những tranh chấp, hận thù và đau khổ, th́ chính sự cực đoan sẽ làm cho tôn giáo vong thân, cùng gieo rắc hận thù và đau khổ.
Sự cực đoan trong môi trường truyền thông qua h́nh thức ca tụng quá đà hay lời lẽ đả kích thô bạo trong thông tin và b́nh luận về tôn giáo chẳng những không mang lại một ư nghĩa lợi ích nào cho ai mà chỉ tự trở thành chướng ngại đối với đa số quần chúng thầm lặng theo dơi. Điều nầy đă diễn ra một cách sôi nổi trong chuyến về thăm Việt Nam của thầy Nhất Hạnh. (Xin đọc thêm bài "Bài Học của Một Chuyến Đi" của cùng tác giả đă đăng trên các trang Web Phật giáo để biết thêm chi tiết, phản ứng và tác dụng sau 3 tháng sinh hoạt tại Việt Nam của thầy Nhất Hạnh và phái đoàn tăng thân làng Mai).
Tạm thay lời kết
Giới tu sĩ của bất cứ tôn giáo nào (ngoại trừ giới tu sĩ phật giáo Nhật Bản và mục sư Tin Lành được phép có đời sống tu hành song song với đời sống gia đ́nh) cũng thường là đối tượng yếu đuối nhất (most vulnerable) của các vụ quy kết xâm phạm t́nh dục v́ 3 lư do:
- Quan hệ t́nh dục là biên giới sau cùng để phân định giữa hai con đường phàm tục hay tu hành.
- Quan hệ t́nh dục hầu hết là hành động riêng tư và thường không có chứng cớ.
- Bản thân một nhà tu hành thuần thành, nhất là giới tu sĩ Phật giáo, thường giữ thái độ tự tại và im lặng trước những lời phê phán hay khen chê bất cứ xuất phát từ ư đồ nào hay từ đâu tới. "Oan ức không cần biện bạch" cũng là một trong 14 hạnh nhẫn nhục của người tu theo đạo Phật.
Vụ "xâm phạm t́nh dục" cổ xưa nhất trong lịch sử xă hội Việt Nam là chuyện Quan Âm Thị Kính mà ai cũng biết là do âm mưu vọng động của Thị Mầu và kẻ hàm oan không biện bạch là ông thầy chùa. Từ đó đến nay, cái "truyền thống" hạ bệ thầy chùa hay hàng tu sĩ của nhiều tôn giáo khác bằng chiến thuật vu vạ t́nh dục trở nên phổ biến. Phổ biến và tiện lợi v́ nó vừa đơn giản, vừa không đ̣i hỏi cần phải có trí óc thông minh tối thiểu mà lắm lúc c̣n được việc v́ dẫu sao vẫn có người nhẹ dạ dẫu không tin th́ vẫn bị hoang mang lung lạc tinh thần.
Hoàn cảnh ở "Tân thế giới" nầy đă đổi khác. Không dễ vu vạ đơn giản và dễ dăi như thời Trung Cổ. Những vụ án liên can đến t́nh dục nổi tiếng trên đất Mỹ nầy như vụ Clinton - Lewinsky, vụ danh ca Michael Jackson, vụ các tu sĩ Công giáo Bắc Mỹ... đều được soi rọi dưới ánh sáng và phán quyết nghiêm khắc và công bằng của luật pháp. Nay sờ sờ tại thủ phủ Sacramento nầy chẳng lẽ cơ quan ngôn luận của một tổ chức lớn có uy tín, bề dày và nhân lực hùng hậu như hội CTNCT Sacto lại phải mượn "chất xám" của một "tác giả" Cà Cuộc nào đó để nói lên lập trường và chí hướng của ḿnh? Trong kho tàng văn hóa nhân loại, việc vận dụng những triết lư sâu sắc, vay mượn những tư tưởng sáng giá ích quốc lợi dân, thậm chí theo gót noi gương những anh hùng liệt nữ để đấu tranh và xây dựng đều là những khuynh hướng tích cực. Nhưng thử hỏi rằng, việc "vận dụng tư tưởng Cà Cuộc" để phỉ báng một tôn giáo mà hai phần ba thành viên trong hội CTNCT Sacto là tín đồ, phải chăng là một sách lược chính trị "mới" để quang phục quê hương, giải trừ cộng sản?
Nước Mỹ là một nước tự do và khối người Viêt tỵ nạn là những người đă đánh đổi sinh mạng của chính ḿnh để t́m tự do. Quyền tự do tư tưởng không những là pháp lệnh mà c̣n là đạo lư của xă hội Hoa Kỳ. Mọi người đều có quyền tự do nói lên quan điểm cá nhân của ḿnh về mọi lĩnh vực. Phản ứng về việc thầy Nhất Hạnh về Việt Nam có "Pro" (thuận), có "Con" (chống) như đă tŕnh bày ở trên. Tỏ thái độ cá nhân đối với việc làm của thầy Nhất Hạnh như xấu, tốt; hay, dở... là quyền tự do tối thượng của mỗi người, nhất là những người trong giới văn nghệ sĩ, truyền thông báo chí. Nhưng nếu nhân danh tự do ngôn luận của ḿnh hay phe phái ḿnh để chụp mũ người khác một cách thậm tệ, thiếu phong cách, thiếu bằng chứng minh bạch là một sự vi phạm quyền tự do của người khác và không tôn trọng "luật chơi" trên đấu trường tự do! Nghiêm trọng hơn thế nữa, thái độ phỉ báng nghi lễ của một tôn giáo, thô thiển vơ đũa cả nắm để gọi chung tất cả tăng ni, Phật tử trong một nghi lễ tôn giáo là một "đám cưới tiền dâm hậu thú" th́ quả thật là một sự bày tỏ thái độ quá tiêu cực và bôi bác trong một khung cảnh xă hội có nhân văn của công đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Tệ hại hơn nữa là trong mục "Cười Bể Bụng" ở trang 19, Ban báo chí đă cho in một "chuyện cười" về thầy Nhất Hạnh và sư bà Chân Không có những câu như sau:
"Quan hệ giữa trai và gái, khi lên giường, nếu mang giày dép th́ nó vướng víu đâu c̣n ǵ hứng thú nữa? Nên phải để Chân Không hay nói nôm na là chân trần.
Mà muốn để giày dép ra cũng phải mất ít nhất là 30 giây. Nên Sư Ông Nhất Hạnh đặt cho người đệ tử gái cái pháp danh Chân Không là có ư nhắc nhở bà này phải luôn luôn ở trong "tư thế sẵn sàng chiến đấu", vậy thôi!!!"
Tôi xin lỗi quư độc giả đă làm tổn thương ḷng tự trọng của quư vị v́ đă trích những câu viết về tôn giáo tục tĩu và vô văn hóa đến như thế. Nhưng ở thế "chẳng đặng đừng" v́ chính tôi cũng rùng ḿnh ghê rợn. Tuy nhiên, phải trưng dẫn bằng chứng để thấy được một sự "nhất quán" của Ban Báo Chí hội CTNCT từ ngoài b́a vào trong ruột báo!
Đấu tranh chính trị đồng nghĩa với tranh thủ nhân tâm bằng cách làm sáng tỏ con đường chính nghĩa của ḿnh. Hội CTNCT tự bản chất là một hội đấu tranh chính trị để phát huy chính nghĩa quốc gia. Trong chiều hướng đó, việc đụng chạm tôn giáo là điều nên tránh v́ đó thường là nguyên nhân trực tiếp gây nên xung đột nội bộ, chia rẽ đồng bạn, ly tán nhân tâm và bất măn quần chúng.
Mong rằng, ban báo chí hội CTNCT Sacramento và ông chủ tịch Nguyễn Quư Nhượng tiếp tục đấu tranh hoàn thành sứ mệnh chính trị để sớm quang phục quê hương và giải tán đảng cộng sản độc tài áp bức. Nếu cần, chư vị cứ đấu tranh trực chỉ với thầy Nhất Hạnh, nhưng xin vui ḷng chừa riêng Phật giáo v́ đó là đức tin, là tín điều tín lư, là chỗ dựa tinh thần của hàng Phật tử chúng tôi.
Trần Kiêm Đoàn
Sacramento, sau ngày Father's Day.