Kinh nghiệm hải ngoại

 

30 năm, có thể nói là một phần ba đời người, nửa đời người hay là tất cả một đời người tùy theo mỗi một người chúng ta. Anh bạn tôi mới làm quen tại Montréal thao thao bất tận về những giờ phút rời bỏ Sài G̣n 30 năm về trước, nhưng cũng có những người bạn cũ không muốn nhắc đến những kỷ niệm thủa xưa, như sợ sệt một cái ǵ, chỉ muốn nói đến những chuyện nhà cửa, xe cộ đâu đâu. Riêng cá nhân tôi, đến 2005 là trọn con số 50. Năm mươi năm sống trên đất Paris. Bây giờ không c̣n cái vinh dự được mấy người bạn đồng hương gọi là « thằng Tây con », có lẽ sau 30 năm « mất nước », đă đến giai đoạn « huề cả làng » (?)

 

Đối với một số thanh niên sống xa quê hương, trước 1975 là những năm tập tành, tập tành để bỏ quê hương, tập tành để trở về quê hương, hoặc tập tành để sống dở dang. Ở Paris, cũng như ở các kinh đô lớn, kể cả Đông Kinh, phong trào tả phái đề cao Mao Trạch Đông, yểm trợ Cộng Sản Việt-Nam bành trướng đến mức tối đa. Năm 1968, sinh viên Paris, rồi tất cả tầng lớp xă hội Pháp nổi lên chống lại xă hội tiêu thụ, chống lại trật tự xă hội, nâng cao tự do không ranh giới. « Cấm không được cấm » là khẩu hiệu tượng trưng cho cuộc « cách mạng tháng năm 68 ». Trong không khí trước và sau những ngày cách mạng lăng mạn này, với phong trào hippie, toà án Bertrand Russel, hiện tượng Jane Fonda, người thanh niên Việt-Nam sống ở hải ngoại, nhất là sống ở Paris không thể nào được thông tin một cách khách quan về thực trạng của đất nước. « Việt kiều yêu nước » tức là yêu Cộng Sản Xô Viết hoạt động ráo riết và tổ chức của họ vừa bao rộng vừa chặt chẽ. Công nhân, trí thức đều được « quản lư » rất có phương pháp. Những người có tên tuổi như các ông Hoàng Xuân Hăn (học giả), Lê Thành Khôi (sử gia), Điềm Phùng Thi (nhà điêu khắc) đều nương theo chính quyền Hà Nội, v́ Đảng Cộng Sản Pháp có tổ chức, rất có thế lực trong mọi ngành, nhất là trong ngành khoa học nhân văn, và đă mở một số cửa nghề nghiệp cho họ.

 

Chúng ta có thể đặt một số câu hỏi về lương tâm những người trí thức Việt-Nam của thế hệ đi trước. Họ có thể nào chẳng biết ǵ về những vụ tố khổ và thảm sát trong chương tŕnh cải cách ruộng đất, những vụ án  triệt hạ nhân văn giai phẩm ? C̣n phần chúng tôi, như vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế,  cũng không có  ư niệm đúng mức với hành động vô cùng ác độc của cộng sản đối với dân Huế. Tất cả tội ác của chế độ cộng sản Việt-Nam đều bị che giấu hoặc nói phớt qua. Dân chúng Tây phương, cũng như người Việt hải ngoại bị cơ quan truyền thông một chiều đánh lạc lương tâm. Ở Pháp, nhật báo tả phái Le Monde hướng dẫn cách suy nghĩ người trí thức, đă giữ một vai tṛ lănh đạo luân lư trong xă hội, là một nhóm áp lực chưa từng thấy trên chính quyền. (Cho đến những năm gần đây mới có hai tác giả can đảm viết cuốn La face cachée du Monde - mặt trái của tạp chí Le Monde, và lột mặt ban điều hành tờ báo này). Le Monde đă giữ một vai tṛ không nhỏ trong chiến tranh Việt-Nam.C̣n hữu phái Pháp đă có thái độ nào ? Trí thức phe hữu rất vụng về. Trong tờ nhật báo Le Figaro, không có một bài phân tách đúng đắn về cuộc chiến Việt-Nam, về xă hội Việt-Nam. Đến lúc kư kết Hiệp định Paris tháng giêng 1973, chính quyền Pháp (hữu phái) mở rượu champagne ăn mừng với phái đoàn Hà Nội. Lúc Sài G̣n thất thủ, Tổng Thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing (hữu phái) cho chỉ thị đại sứ Pháp Mérillon phải ở lại Việt-Nam v́ cho rằng Pháp sẽ có một vai tṛ lớn sau khi Mỹ rút lui và Mặt Trận Giải Phóng sẽ cai quản Miến Nam !

Nói tóm lại, người thanh niên Việt Nam sống ở Pháp, dù cố gắng đến đâu cũng không thể nào có đủ dữ kiện khách quan để chọn lựa, để có một cái nh́n sáng suốt trên t́nh h́nh đất nước.

 

30 tháng tư. Olivier Todd gọi là tháng tư ác độc (Cruel Avril  nxb Robert Laffont 1987, sắp tái bản trong năm nay). Ở đây, tôi xin phép nói đến nhà báo và nhà văn can đảm Olivier Todd. Vào cuối những năm 70, lúc đến Cà Mau để gặp quận đội cộng sản một cách th́nh ĺnh, không báo trước, Olivier Todd đă thấy cái giả dối của nhà cầm quyền Hà Nội trong cuộc chiến Việt-Nam, và ông đă không ngần ngại bênh vực Miền Nam Việt-Nam. Một tiếng thét giữa băi sa mạc. V́ thái độ này, Olivier Todd đă phải trả một giá rất đắt trong nghề nghiệp của ông.

 

30 tháng tư. Những người thanh niên như chúng tôi cũng chưa thức tỉnh. Chỉ biết bàng hoàng trước thời cuộc, trước cái tang tóc của gia đ́nh, của những người thân thiết bị đi cải tạo. Cải tạo là ǵ, chưa mấy ai hay biết. Ông bạn vong niên, nhà văn Vũ Khắc Khoan viết cho tôi một cái thư dài từ trại tạm cư làm tôi quá xúc động v́ hai chữ « mất hết ».

 

Phải đợi đến lúc có thuyền nhân, có thuyền « Hải Hồng », có những chứng nhân gần gũi như giáo sư Bửu Lịch viết về kinh nghiệm cải tạo th́  tôi mới đi từ xúc động đến thức tỉnh. Cuối 70, đầu 80 là những năm đi vào con đường dấn thân, được cùng làm việc với những người trí thức chân chính như sử gia Nguyễn Thế Anh, chính trị gia Nguyễn Ngọc Huy, được đọc thơ Nguyễn Chí Thiện, nhận thức tấm gương Trần Văn Bá.

 

2005, như vậy là đă 50 năm sống bám vào Paris, đă thấy thời cuộc quốc tế chuyển thay, bạn bè không ít, thợ thuyền cũng có, trí thức, trưởng giả cũng có, tôi thấy ḿnh thuộc vào thế hệ một rưỡi, v́ qua Pháp lúc chưa trưởng thành. Chỉ trưởng mà không sinh tại Pháp. Nhưng ai ai cũng phải t́m một nẻo về cội rễ. Có những người v́ đi lung lạc quá xa nên không t́m dấu vết hay phương hướng trở về dân tộc. Những năm trước 75 đối với cá nhân tôi là những năm thiếu thốn. Sau 75 tôi không « mất hết » như nhà văn Vũ Khắc Khoan viết trong thư. Ngược lại, tôi « t́m lại được một cái ǵ »lúc thấy ḿnh có thể đóng một vai tṛ nho nhỏ trong công cuộc đấu tranh trí tuệ. 30 năm nh́n lại, người ta có thể chỉ trích cộng đồng Việt-Nam hải ngoại v́ đă bỏ mất một số cơ hội. Nhưng sau 30 năm, cộng sản Việt-Nam chưa phất được lá cờ đỏ, chưa bành trướng được như nguyện vọng. Không thê đ̣i hỏi hơn, v́ những vết thương ḷng người tỵ nạn chưa được hàn gắn. Sau ba mươi năm, trắng đen đă rơ, một số người đă ngồi lại với nhau v́ thời gian là thử thách không chối căi.

 

Nếu 20 năm trước 30 tháng tư 1975 đối với cá nhân tôi là những năm thiếu thốn, t́m ṭi con đường trở về dân tộc, 30 năm sau tháng tư đen là những năm  có những cuộc gặp gỡ lớn trên con đường hướng về đất nước. Nguyễn Chí Thiện, Tuệ Sỹ, Dương Thu Hương. Có người trách những người đấu tranh là « làm chính trị », và đề cao những người « làm nhân đạo », hoặc đồng t́nh với những kẻ vô tư. Thưa quư bạn, nhân quyền có phải là quyền làm người ? Nhân đạo có phải là đạo làm nguời ? « Làm chính trị » nên để dành cho những người có tham vọng có một chỗ đứng (hay ghế ngồi ) trong ban lănh đạo quốc gia. Muốn « làm chính trị » cần phải có tài năng, bản lănh đặc biệt trong ngành nghề này. Mỗi người dân phải có cái quyền (tôi không dám nói bổn phận) đấu tranh cho quyền làm người, cho đạo làm người. Chúng ta đấu tranh chống cộng sản độc tài toàn trị v́ mong ước người đồng hương của chúng ta được sống trong một nước tôn trọng con người. Sống trong một thế giới tự do, cái công việc trước tiên của mỗi một người Việt có lương tâm là phải giành cái quyền sống với lương tâm của ḿnh.  

 

Bùi Xuân Quang