Vị trí của người phụ nữ trong giáo hội Công giáo La Mă
Lời nói đầu: Vấn đề tu sĩ giáo hội Công giáo vi phạm t́nh dục tại Boston, Hoa Kỳ bùng nổ năm 2002. Giáo hội Công giáo đă t́m cách giải quyết, và vấn đề lắng xuống một thời gian. Gần đây vấn đề lại xuất hiện và đụng chạm đến đức Giáo hoàng Benedict về phong cách ngài giải quyết vấn đề vi phạm t́nh dục của các linh mục trong thời gian ngài c̣n là Hồng Y. Tờ tuần báo NEWSWEEK số ngày 12 tháng Tư, 2010 qua bài viết “A Woman’s place is in the Church” của bà Lisa Miller đă phân tích cặn kẽ nguyên nhân và hậu quả của vấn đề tu sĩ và t́nh dục, và phương thức giải quyết. Tôi xin lược dịch sau đây.
** Trần B́nh Nam **
--:o0o:--
Giáo hội Công giáo La mă là một định chế gồm đa số đàn ông tồn tại lâu đời và vững bền nhất thế giới. Giáo hội đang t́m cách gỉải quyết một vấn đề nội bộ: Một số linh mục vi phạm t́nh dục với trẻ em và con chiên.
Trong mấy chục năm qua các vị linh mục tại Hoa Kỳ, Âu châu, Ireland, Brazil và nhiều nơi khác đă gợi t́nh dục và hiếp dâm trẻ em tại nơi cắm trại, trên xe, trong pḥng ngủ hay tại pḥng xưng tội. Một số rất ít nạn nhân trẻ em này đă có can đảm tiết lộ với mẹ hay chị. Và một số các bà mẹ, bà chị này đă tŕnh với các vị giám mục xin giải quyết th́ đều bị các vị giám mục lờ đi và khuyên nên im đi th́ hơn.
Trước sự vi phạm t́nh dục trong Giáo hội, người phụ nữ luôn luôn được khuyên bảo nên nhẫn nhục chịu đựng. Họ cầu nguyện xin đức Mẹ cứu giúp cũng không được đáp lại.
Kết quả, các nam tu sĩ trong Giáo hội được giao phó giải quyết vấn đề tế nhị này bị mất uy tín. Các viên chức tôn giáo này h́nh như không thông cảm được sự đau khổ của con chiên. Tại các buổi giảng đạo nếu cần nói lời xin lỗi con chiên họ đă xin lỗi một cách máy móc.
Người ta không quên h́nh ảnh đức Hồng y Timothy Dolan tại Palm Sunday ở New York lên án sự vi phạm t́nh dục tại giáo đường của ngài với cung cách một ông giám đốc đại công ty (dạy bảo nhân viên). Một đoạn phim YouTube khác cho thấy đức Hồng y Sean Brady tại Ireland, nơi – trong 40 năm liền – có 15.000 trẻ em bị các tu sĩ xâm phạm t́nh dục thản nhiên bác bỏ mọi lời yêu cầu ông từ chức của con chiên.
Và mới đây khi tờ New York Times tiết lộ rằng Đức Giáo hoàng Benedict XVI (khi ngài c̣n là Hồng y Joseph Ratzinger ngồi tại Vatican phụ trách việc giải quyết sự vi phạm t́nh dục trong Giáo hội) đă không cách chức một linh mục vi phạm t́nh dục với 200 đứa trẻ điếc tại Winconsin, ngài đă gạt đi và cho rằng báo chí có ác ư. Ngài nói rằng “không v́ tin đồn và dư luận mà mất đức tin”. Thái độ chung cho thấy đức Giáo hoàng và các phụ tá của ngài (Hồng y, Giám mục) chưa hiệp thông với nỗi đau của con chiên.
Vấn đề cốt lơi không phải là - như nhiều người ngoài giáo hội tin - giáo hội không hiểu nỗi khổ của con chiên v́ họ là những người sống độc thân (celibacy) và v́ lối sống quá cách biệt quần chúng của họ. Thật ra, lư do chính v́ các vị Hồng y và Giám mục sống trong tháp ngà của một giáo hội khép kín theo mẫu mực của thời Tiền Khai Sáng (pre-Enlightenment) trước thế kỷ thứ 18, không bị - và không muốn bị - ảnh hưởng bởi cuộc cách mạng dân chủ tại Pháp và tại Hoa Kỳ. Về phương diện luân lư Giáo hội đặt quyền lợi của Giáo hội trên quyền lợi của cá nhân và xem sự tiến bộ là một hiện tượng đe dọa Giáo hội. Người Tây phương coi trọng sự tự do cá nhận nên bức rức khi thấy Giáo hội xem sự gắn bó với Giáo hội là trên hết. Hai bên không gặp nhau v́ vậy.
V́ không coi trọng sự tiến bộ xă hội, Giáo hội không quan tâm đúng mức vai tṛ của người phụ nữ trong lực lượng sản xuất và những ǵ phụ nữ đă đóng góp và phục vụ đời sống công cọng. Tại Hoa Kỳ có 30 triệu phụ nữ làm việc toàn thời gian. Tại Âu châu 60 triệu. Cách đây 50 năm, các người chủ chăn các nhánh Tin Lành đă t́m cách ngăn chận bước tiến của phụ nữ nhưng không thành công. Nhóm Lutheran tại Đan Mạch đă cho phép phụ nữ trở thành mục sư năm 1948 . Tại Hoa Kỳ người phụ nữ đầu tiên được phong mục sư năm 1976 thuộc giáo phái Episcopalian. Thế nhưng trong Giáo hội Công giáo các tu sĩ vẫn sống và làm việc như họ đă làm cả ngh́n năm nay. Không lập gia đ́nh, không thân mật, không quan hệ nghề nghiệp với phụ nữ, và không hề biết về đời sống gia đ́nh và con cái của con chiên. Và khi một tu sĩ Công giáo rời khỏi xứ đạo, họ càng bị cách biệt trong tháp ngà hơn nữa. Bà Elaine Pagels, giáo sư về tôn giáo tại đại học Princeton nói rằng: “Giáo hội hoàn ṭan không quan tâm ǵ đến sự an toàn của trẻ em (trước sự xâm phạm t́nh dục của các tu sĩ). Đối với chúng ta đó là một thái độ đứng ngoài sinh hoạt xă hội thật khó giải thích. Nhưng quả thật các tu sĩ giáo hội không muốn sinh hoạt hài ḥa với xă hội.”
Đă đến lúc Vatican thực hiện những ǵ Giáo hội phán dạy. Công Đồng II họp đầu thập niên 1960 đă có nỗ lực hội nhập lối sống cũ xưa với đời sống mới.
Qua văn bản của Công Đồng II, Giáo hội đă công nhận vị trí của người phụ nữ trong xă hộị một cách minh bạch rằng: “Người phụ nữ đă có một vai tṛ quan trọng trong xă hội như chưa từng có về ảnh hưởng, tác dụng cũng như quyền lực. Do đó đă đến lúc người phụ nữ có thể làm những công tác của Phúc Âm để cứu văn nhân loại đang đi xuống.”
Năm 1988, đức Giáo Hoàng John Paul II, trong một lá thư nhan đề Mulieris Dignitatem (On the Dignity of Women – Giá trị cao quư của người phụ nữ ) đă đề cao sự quan trọng của người phụ nữ đối với Giáo hội. Tuy nhiên 6 năm sau, ngài không quên nhắc lại Giáo hội chưa thể cho phép phụ nữ thụ phong linh mục.
Sự khác biệt giữa nguyên tắc và thực tế của Giáo hội quá rơ ràng. Tại Hoa Kỳ 60% người đi nhà thờ là phụ nữ, và số tiền 6 tỉ mỹ kim thu được mỗi năm sau các buổi lễ do đa số phụ nữ cho. Thế nhưng người phụ nữ không có một chỗ đứng nào trong bộ máy quyền lực của Giáo hội. Tại Vatican, số phụ nữ có một chức vụ nào đó có thể đếm trên đầu ngón tay. Phụ nữ cũng rất ít được giữ các chức vụ điều hành quan trọng tại các giáo phận. Và mặc dù số nữ tu nhiều gấp bội số linh mục, ít ai thấy sự có mặt của họ. Đến nổi gần đây khi một nhóm nữ tu lên tiếng về vấn đề cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe, dư luận mới nhớ ra là có một tập thể các nữ tu trong Giáo hội.
Bà Kathleen McChesney, một viên chức FBI có nhiệm vụ điều tra các vụ vi phạm t́nh dục trong Giáo hội Công giáo sau các vụ tố cáo tại Boston năm 2002 nhận xét rằng: “Tại Vatican không có một phụ nữ nào tham dự vào cuộc điều tra này. Vatican xem đây là chuyện của đàn ông.”
Tháng Ba vừa qua, bà Kerry Robinson, giám đốc cơ sở National Leadership Rondtable, một cơ sở gồm các nhà kinh doanh Hoa Kỳ lập ra với mục đích thuyết phục Giáo hội áp dụng nguyên tắc kinh doanh vào sự điều hành Giáo hội, đă cùng với một số phụ nữ khác đi Vatican để nói chuyện với các vị Hồng y. Bà Robinson nói: “Người phụ nữ trẻ tuổi nào trong thế giới kinh doanh cũng có thể nh́n thấy cơ hội thăng tiến của ḿnh. Và họ rất khó chịu khi không thấy một cơ hội thăng tiến nào như vậy trong Giáo hội. Giáo hội thấy như ḿnh không liên quan ǵ đến phụ nữ, và do đó thấy không liên quan ǵ đến con cái của họ.”
Bà Robinson nhận xét thêm: “Dư luận cho rằng có vấn nạn vi phạm t́nh dục là v́ Giáo hội chỉ toàn đàn ông: đàn ông gây nên tội lỗi, đàn ông che dấu và đàn ông duy tŕ. Cho nên cách tốt nhất là cho thêm nhiều phụ nữ vào sinh hoạt của Giáo hội”
Nhưng để phụ nữ tham gia vào công cuộc bài trừ tệ nạn vi phạm t́nh dục cũng không phải là phương thuốc hiệu nghiệm nhất. Lịch sử chứng minh rằng người phụ nữ có quyền lực trong tay cũng tàn bạo và hư đốn như đàn ông.
Nhưng rơ ràng là các giới chức của Giáo hội đă đáp ứng một cách chậm chạp khi vụ vi phạm t́nh dục năm 2002 tại Hoa Kỳ được phanh phui. Giáo hội đă giải quyết theo cung cách bảo vệ quyền lợi và uy tín của Giáo hội hơn là bênh vực quyền lợi của trẻ em trước công lư.
Mục sư Marie M. Fortune thuộc nhánh Tin Lành United Church of Christ, người sáng lập Viện Faith Trust Institute nhằm mục đích bài trừ sự vi phạm t́nh dục của giới tu sĩ nói rằng: “Giáo hội Công giáo có thể đưa các vị linh mục vi phạm t́nh dục ra khỏi hệ thống Giáo hội và lột áo ḍng của họ.” Nhưng Giáo hội không làm như vậy v́ Giáo hội là một hội “của đàn ông” cực kỳ bảo thủ sinh hoạt ngoài lề đời sống của con chiên.
Chúng ta ai cũng biết (và các cuộc nghiên cứu cũng chứng minh như vậy) rằng một nhóm người sinh hoạt riêng biệt, không có cơ chế kiểm soát th́ trước sau cũng làm bậy. Trong cuốn sách: “The Company He keeps: A History of White College Fraternities”, ông Nicolas Syrett tiết lộ rằng 70 đến 90% các vụ hiếp dâm tập thể tại các đại học là do các thành viên của các hội toàn nam sinh viên (các Fraternities). Tuy nhiên giáo sư Syrett lưu ư rằng “nam thành viên trong các Fraternities làm t́nh với bao nhiêu thiếu nữ không ai chê trách, trong khi Giáo hội tuyệt đối cấm đoán t́nh dục.”
Ông Syrett kết luận, trong cả hai trường hợp “người đàn ông được khuyến khích để nghĩ rằng họ có uu tiên hơn phụ nữ, và nếu Giáo hội không trừng phạt các tu sĩ vi phạm t́nh dục th́ các trẻ em bị lợi dụng có thể có cảm tưởng rằng những ǵ các tu sĩ làm chưa hẵn là sai trái.”
Ông Richard Sipe, một tu sĩ hoàn tục có 30 năm nghiên cứu và đo lường kết quả của chương tŕnh gíáo dục t́nh dục của Giáo hội kết luân rằng: “Giới tu sĩ tự cho ḿnh là một tầng lớp riêng biệt có đặc ân.”
Chúa Jesus không hề dạy rằng vai tṛ của người phụ nữ đối với Giáo hội của Chúa là thứ yếu. Là chủ chăn của một tập thể nhỏ có tinh thần tiến bộ, Chúa Jesus khuyến khích mọi thành phần tham dự, trong đó có phụ nữ đă có gia đ́nh hay c̣n độc thân. Và kinh Phúc Âm nói người phụ nữ có một vai tṛ quan trọng. Phụ nữ là người đầu tiên chứng kiến Chúa sống lại và rao truyền tin lành lại cho các đệ tử phái nam.
Người ta tin rằng phụ nữ đă đóng một vai tṛ quan trọng trong Giáo hội trong thời kỳ sơ khai. Trong một lá thư gởi cho cư dân thành La Mă viết khoảng năm 50, thánh Paul có nói đến phụ tá (deacon) Phoebe, và những phụ tá khác như Prisca, Tryphena và Tryphosa. Toàn là phụ nữ. Trong thư thánh Paul có nhắc đến tên một vị thánh khác (trong 12 vị thánh giúp Chúa truyền bá Phúc Âm) là bà Junia.
Tuy nhiên nếu cho rằng trong một hai thế kỷ đầu tiên của Giáo hội Công giáo là thời đại hoàng kim của phụ nữ th́ hẵn không đúng. Trong thời gian đó, người phụ nữ vẫn được xem là công dân hạng hai cần được đàn ông kiểm soát.
Vào thế kỷ thứ hai nhà truyền giáo Clement of Alexandria nói, mặc dù trên thực tế hàng giáo phẩm và ngay cả các đức Giáo hoàng đều có vợ, người phụ nữ có khả năng khơi động t́nh dục nơi người đàn ông làm cho họ bị liệt vào thành phần mê hoặc người khác vào ṿng tội lỗi (như Eve), và đồng lơa với quỹ Satan.
Vào thế kỷ thứ 12, nỗ lực tách biệt đàn ông với đàn bà trong Giáo hội hoàn tất. Từ năm 1139 hàng giáo phẩm phải sống độc thân trở thành quy luật. Tại các đại học lớn tại Âu châu, nơi người trí thức Công giáo nghiên cứu triết học, toán học, thiên văn học, khoa học, văn chương và thần học người phụ nữ hoàn toàn bị gạt ra ngoài các sinh hoạt này. Vào thời đó một người phụ nữ chỉ có thể nổi danh khi trở thành một nhà tiên tri hay một nhà thần bí học, và giới giáo phẩm xem người phụ nữ đó là đồ bỏ.
Giáo sư Kevin Schultz, một sử gia tại viện đại học Illinois ở Chicago giải thích rằng Giáo hội Công giáo chống lại tinh thần cá nhân, cái động lực làm nên cuộc cách mạng Pháp và Hoa Kỳ. Để chống lại tinh thần cá nhân giáo hội Công giáo cho làm sống lại thuyết Thomas Aquinas, đặc biệt điểm ông nhấn mạnh đến sự cần thiết đặt quyền lợi cộng đồng lên trên quyền lợi cá nhân, và dùng thuyết Aquinas để chống lại cái mà Giáo hội gọi là văn minh đồi trụy. Giáo sư Schultz giải thích rằng thuyết Thomas Aquinas “tạo ra tinh thần chúng-ta-và-các-anh (us-versus-them) che chắn Vatican bằng một bức tường thành kiên cố và bí mật làm cho đức Giáo hoàng trở thành môt nhân vật toàn năng”
Có lẽ cách gỉải thích của giáo sư Kevin Schultz là cách giải thích tốt nhất hiện tượng xa cách giữa Giáo hội và quần chúng tiến bộ. Trong một thế giới mà cá nhân trở thành vô nghĩa trước tập thể, những ư tưởng cứng nhắc – có thể tốt hay xấu - có khi trở thành nguyên tắc của đạo lư .
Sự nâng Giáo hội lên tầm cao nhất giải thích tại sao một giáo hội có sứ mệnh phục vụ cho người bệnh tật và kẻ nghèo khó lại có thể quyết định không cho phép dùng condom để pḥng ngừa sự lây lan của bệnh AID. Nó giải thích tại sao một giáo hội vốn coi gia đ́nh là nền tảng lại có thể cấm các bà mẹ dùng thuốc ngừa thai. Và cũng giải thích tại sao một vị giám mục khi đối diện với một linh mục vi phạm t́nh dục với trẻ em trong giáo phận của ḿnh có thể ngoănh mặt đi không báo cáo với cảnh sát.
Để phá vỡ bức tường cách ly Giáo hội với quần chúng cần làm sống lại tinh thần của Công Đồng Vatican II. Đức Giáo hoàng John XXIII tuyên bố: “Tôi muốn mở rộng cánh cửa sổ Gíáo hội để chúng ta có thể nh́n ra ngoài và con chiên có thể nh́n vào trong.” Và bước đầu tiên là tiếp cận với phụ nữ.
Hơn 60% tín đồ Công giáo Hoa Kỳ ủng hộ ư kiến phong linh mục cho phụ nữ, nhưng những kẻ bảo thủ vẫn chưa đồng ư. Tại Hoa Kỳ số người tự nguyện đi tu để trở thành linh mục càng ngày càng ít, trong khi có đến 80% phụ nữ làm việc trong các giáo phận, cho nên việc phụ nữ trở thành linh mục chỉ là vấn đề thời gian.
Bà Eileen McCafferty DiFranc, một trong khoảng 100 người phụ nữ Hoa Kỳ nói rằng nhóm của bà đă được thụ phong linh mục bởi “một vị giám mục của ṭa thánh La Mă”. Bà McCafferty đă bị Giáo hội khai trừ, nhưng bà không chấp nhận quyết định của Giáo hội. Bà nói “chúa Jesus không hề nói đàn bà không được làm linh mục”.
Tại Hoa Kỳ sự vi phạm t́nh dục tại các giáo phận giảm nhờ hoạt động của nhóm bà McChesne. Bà đă khuyến cáo thành lập tại mỗi giáo phận một ủy ban cố vấn t́nh dục gồm những chuyên viên và những người thật sự quan tâm đến sự an toàn của trẻ em. Bà McChesney nghĩ rằng các giáo phận trên thế giới và nhất là tại Vatican đều cần có một ủy ban như vậy. Bà nói: “Đức Giáo hoàng Benedict nên có một ủy ban cố vấn không phải chỉ toàn tu sĩ mà nên gồm chuyên viên về vi phạm t́nh dục đối với trẻ em, chuyên viên điều tra và chuyên viên giải quyết vấn đề.” Và nếu các chuyên viên này là phụ nữ th́ càng tốt.
Trong chuyến du hành qua Vatican, bà Kerry Robinson khéo léo lưu ư các vị Hồng y rằng từ lâu tại các buổi buổi lễ các linh mục không c̣n mang các chuyện liên quan đến phụ nữ trong kinh Phúc Âm và trong Cựu Ước ra đọc. Bà ngạc nhiên thấy nhiều vị Hồng y không biết có việc đó. Bà Robinson nói “Các vị Hồng y tham dự các khóa lễ hằng ngày nhưng họ không bao giờ tự hỏi người phụ nữ đi lễ mỗi ngày Chủ Nhật nghĩ ǵ.”
Nếu những câu chuyện về phụ nữ trong Kinh Thánh không được nhắc nhỡ tới th́ người phụ nữ dần dà sẽ không xem ḿnh là một phần của Giáo hội. Họ sẽ bỏ Giáo hội và mang theo con cái của ḿnh.
Trần B́nh Nam (lược dịch)
April 29, 2010