Vô Danh.
(
Metaphores)
từ một bài thơ TRĂNG
Cơi thơ vốn là thế giới khu biệt. Cơi của cảm nghiệm và đồng cảm. Cơi của Người
mà cũng là cơi của Ta. Không dễ mà vào. Có khi hai ba lần cửa khép. Mở cửa này
c̣n cửa nữa. Tưởng tới mà chưa tới, tưởng vào mà chưa hẳn đă là vào. Nó không
phải là biểu hiện của thực tế, hiện hữu vật chất. Cho dù là một biểu hiện vật
chất đi nữa, nó cũng mời ta đi vào cơi sâu, cơi tâm linh, cơi t́nh cảm mông
lung. Aûo diệu. Cơi thơ là cơi vô cùng, nhiều khi đến chỗ vô ngôn, chỗ không lời.
Và nếu lại làm thơ theo lối ẩn dụ. Thêm một lần cửa khép nữa. Đó là thứ ngôn ngữ
hai mặt. Thứ ngôn ngữ hiển hiện và thứ ngôn từ dấu mặt, mượn chữ dể nói thay lời.
Lời theo ngữ nghĩa tiếng Pháp La Parole viết hoa. Lời có thể là cái hiển ngộ,
cái sự sống linh thiêng, cái cao diệu, cái trong sáng tṛn đầy, cái ngọt lịm êm
ái. Nhưng cũng có thể cái sống bằng chính con người, cái sinh động va chạm, có
cầm lấy được bằng cảm giác nóng lạnh, ấm, nháp sàm sạp. Hoặc cái cảm giác của
cái ứ tràn, cái chứa không được như không có chỗ chứa. Và khi vào được đến đó là
vào cơi thơ hay cơi của người rồi.
Aån dụ không phải lối thơ xa lạ ǵ. Bên tây cũng có, bên Tầu cũng không kém. Đó
là lối thơ kín mà hở, nẻo vào và nẻo ra không giống nhau. Đạt chữ vị tất đă đạt
lời, đạt ư. Người làm thơ như thể làm một nửa, nửa kia mời độc giả làm tiếp. Sự
sáng tạo của nhà thơ chỉ thành hiện thực khi người đọc tiếp nhận nó, sáng tạo
khai sinh nó một lần thứ hai. V́ thế đứa con ra đời của nhà thơ dễ có cơ trở
thành phế tật, nếu người đọc không bắt được sứ điệp gửi đi. Hay nói đúng ra,
không hiểu được tác giả, hoặc hiểu sai. Đến có thể nói, không có người đọc th́
kể như bài thơ không có cơ hiện hữu được.
Cũng cần phân biệt, thơ ẩn dụ không hẳn là lọai thơ hoán du. Thơ hoán dụ là một
loại thơ mà tính chất như thơ đố, thơ để đoán nghĩa và ư từ, thơ viết một đằng
hiểu một nẻo. Kiểu thơ Hồ xuân Hương. Kiểu thơ chữ th́ tục mà nghĩa có thể thanh,
hoặc ngược lại. Hoặc xử dụng dùng các đồ vật để ám thị về t́nh dục, về phái tính.
Trong văn học Việt Nam, dễ có mấy ai hơn được cái tài t́nh này của HXH. Xuân
Hương chơi chữ, đùa nghịch với chữ nghĩa nhiều hơn chữ chơi. Nhưng dù sao chơi
chữ chỉ là tiểu xảo nghịch ngợm. C̣n chữ chơi, ẩn dụ th́ khác.
Nhiều nhà thơ đă đi qua đó rồi. Một người bạn thơ của Vô Danh tôi, tên Ngô Văn
Tao đă viết như thế này:
Sóng trôi ch́m nổi sóng trào
Tuyệt trù nắng quái ngày dài không đêm
Thân nàng như thể lưa thưa
T́nh nàng như thể xế trưa buông thuồng
Thân nàng vô tận mịt mùng
…
Phải đâm chọc thủng bức màn chữ nghĩa kia, phải vén màn, phải nḥm qua kẽ hở tấm
liếp. Chữ mới khơi mở ra, mới hé lộ. Chữ nghĩa như thế có thể t́m thấy trong
truyện Hà Ô Lôi ở một bài viết trong Nhớ Huế. Của những câu truyện thần thoại,
mượn tay thần thánh, truyện Hoang đường, truyện Liễu Trai để nói truyện dân gian
t́nh ái hay truyện dâm dục. Cũng tùy. Nhưng những lối viết đó cũng cạn rồi,
thiếu chất nóng bỏng, rát rúa, nhày nhụa. Sờ vào cát nóng bỏng bàn tay đă hẳn
khác khi nghe thiếng đàn của Hà ô Lôi. Có đúng không nào?
Bên tây, có một anh triết gia trẻ, tên Michel Onfray, sinh năm 1959 đă viết vô
số những điều như thế trong Théorie du corp amoureux. Pour une érotique solaire.
Paris. Grasset, 2000. Cuốn sách xử dụng đầy những ẩn dụ súc vật ( métaphores
animales), nhất là những dộng vật có vú hay những thú rừng để nhờ đó kích thích
trí tưởng tượng đến tương giao có thể là t́nh ái hoặc có thể là t́nh dục. Những
ẩn dụ đó muốn hiểu được ” cần bóc vỏ “ chữ nghĩa, phải khai tâm, khai ḷng và
đừng bao giờ một tay cầm quyển kinh thánh một tay đọc Michel Onfray.. V́ M.
Onfray đặt những vấn đề về chủ nghĩa Hédonisme éthique..Cho nên, phải chọn lựa
hoặc đọc kinh thánh hoặc đọc Onfray. Không ai cấm đọc kinh thánh, nhưng cũng
không ai cấm đọc Onfray.
Ngôn ngữ Onfray là một cực, kinh Thánh là một cực khác, xa ĺa đến nỗi phải lựa
chọn một trong hai, nhưng ngôn ngữ hàm chứa tiềm năng “ẩn dụ” như một nhịp cầu
nối liền giữa nhục cảm và thánh thiện, giữa tục lụy và thiên đường vô nhiễm, cho
nên con đường ngược lại với văn chương trong Hà Ô Lôi dùng chuyện thần thánh để
nói chuyện t́nh người, là mượn ngôn ngữ trần thế để dẫn dắt đến ư niệm thiêng
liêng mà không cần phải thần thánh hóa cấp bậc thăng hoa.
Cho nên, truy lùng chữ nghĩa ở đây là một hành tŕnh tao ngộ, t́m bắt cho được
những giây phút giao hoà, một rung động của tâm hồn qua cảnh giới thiên nhiên,
rộng răi đất trời với biển khơi mênh mông vời vợi, vào một buổi chiếu nắng tắt,
để đưa ta cảm nhận được t́nh thương vô cùng bao trùm cả vũ trụ, ở đó t́nh yêu
nồng nàn là bước đầu để nhân loại đến gần với nhau.
Có lẽ ẩn dụ của TRĂNG VU LAN là mượn chuyện trần ai để diễn tả t́nh mẹ bao la,
t́nh con vô bờ trong quá khứ đă trở nên khuôn mẫu văn chương hằng hà sa số bằng
những chất liệu gần gũi con người nhất. Thay v́ ca ngợi t́nh mẫu tử, ḷng hiếu
để bằng những ngôn từ bóng bẩy, TRĂNG VU LAN trở về với sỏi đá cụ thể trên bước
đường trần, và cảm xúc trở nên nóng bỏng… Vô Danh này đă vào đọc và đi nhặt
nhạnh tất cả những nguyên liệu đă làm nên bài thơ ấy. Những chất liệu này đều là
chất liệu dẫn lửa, dễ cháy lắm. Chất liệu dẫn lửa dễ cháy trong nhà là củi, gỗ,
vải, chăn nệm và cái bật lửa. Thế c̣n chất liệu dẫn lửa trong thơ là ǵ?
Là trăng, mà trăng một nửa mới dẫn lửa, là gió, là bờ biển, phương hướng, sóng
vỗ, thủy triều, cát liếm, thời gian là buổi chiều khác buổi trưa chứ? Năm cung
bậc, bước chân, sỏi đá, cát vàng, mây mưa, tiếng sóng, vũ tru.. và tra la la..Và
nhất là nghêu, ṣ ốc hến. Nghêu ṣ biểu tượng cho khai mở nữ tính trong biện
chứng khép mở. Lúc nào khép, lúc nào mở?. Chỉ một trong những chất liệu đó th́
không đốt được, không tồn sinh được. Phải gói chung một bọc thành một khối th́
cái nọ dẫn tới cái kia, cái kia cắt nghĩa cái nọ. Vành trăng khuyết đến lúc nó
tṛn th́ phải nói lên điều ǵ chứ? Mấu chốt làm nên bài thơ là những chất liệu
đó, gói ghém, sắp xếp, dàn trải, dùng cái nói ( dits) để nói đến cái không nói (
non-dits). Càng nói đến cái nói là để trục xuất ra cái không nói. Và thế là văn
chương, là nghệ thuật.
Một lần nữa, một lần này thôi, chỉ một lần thôi đă đủ, Vô Danh này trích dẫn thơ
bạn, v́ vốn không biết làm thơ, chép thơ th́ được:
Chỉ là chút lá rụng
Nằm trên băi cát, triều khơi chụp liền
Mang về đại hải mông mênh
Ao hồ bèo bọt lênh đênh cuối trời
Người thơ đem tặng cuộc đời
Trái tim bê bối cho người bê tha.
Xin đừng hiểu “bê bối” và “bê tha” là những từ ngữ luộm thuộm, có “bối” mới “tha”,
có vị kỷ mới vị tha!
Đă đến giờ rồi, Vô Danh mời bạn đọc truy lùng những ẩn dụ trong bài Trăng Vu Lan
bằng đọan văn dẫn dụ dưới đây.
Aáy là một buổi chiều nắng vừa tắt. Băi biển vắng người, lác đác vài kẻ tắm muộn,
“ tắm chui”. Cơn gió lộng đột nhiên trở lạnh. Le vent est venu léger sur tes
épaules, déranger tes seins mouillés et troubler mes rêves. Ta tự nhủ l!amour
était bleu comme le ciel bleu. Sóng ŕ rào liếm bờ cát như thèm thuồng da thịt
nhục cảm. Et mes lèvres comme les vagues de sable. Và nh́n mặt em, anh thấy cả
hành tŕnh nhân thế. Cái ǵ c̣n đọng lại và cái ǵ đă đi qua. Ton visage
pourtant raconte ton histoire. Histoire d!amour sans équivoque. Et sans moi. Tu
as l!air absent.
Nhắc nhớ lại cơn say nắng chiều và bồng bềnh cùng nhau trôi nổi trên sóng nước.
Cái cười trẻ thơ quên mất h́nh hài thân phận. Xa là mù khơi. Vẽ lên nền trời nửa
xanh, nửa đục tự đâu bay về một đàn hải âu. Cánh lượn xà đến là ảo diệu. Đàn cá
lao xao trốn tránh. Ḷng tự nhiên cảm thấy cái kỳ diệu đến ảo diệu của thiên
nhiên. Bằng cách nào cùng một lúc, thời gian là một thời khắc, chim và cá hẹn
gặp nhau ở chốn này? Những bước chân trần em đi để lại dấu chân em. Nous sommes
vagabonds. Chúng ta là những kẻ lang thang t́m gặp nhau chốn này. Kẻ bên ni,
người bên tê. Chúng ta từ đâu đến? Từ măi xa. Gặp nhau nơi chốn này. Ḷng như
chùng xuống bước theo vô định. Buồn buồn lâng lâng, cái lâng lâng vô cớ của băi
biển buổi chiều hoe vắng người. Trên trời, ai đó thả cánh diều phiêu bạt, đợi
gió. Ai đó dật giây diều như tṛ nghịch ngợm. Lên xuống thất thường. Để cho đúng
điệu, anh gọi là vô thường. Chỉ c̣n lại hai bóng h́nh, trên là trời, dưới là
nước, trong là cơi ḷng. Cái buồn vô thường cảm nghiệm của một ngày sắp tắt, của
một b́nh minh chưa tới. Mặt trời đỏ ối vừa đấy ngoảnh lại đă ch́m xuống biển lúc
nào không hay. Cả hai đều ngỡ ngàng. Mặtë trăng lưỡi liềm nửa miếng như Vọng mỹ
nhân hề thiên nhất phương( Tô Đông Pha). Trời đất bao la mà rất chặt. Xa mà rất
gần. Dắt tay nhau đi vào đời. Dung dăng dung dẻ. Chợt nghe tiếng nói của tâm hồn.
Ŕ rào như sóng biển. Les peines du passé et les joies du présent. Âm thanh ŕ
rào tiếng sóng mà như ngũ cung xôn xao của những tầng cảm giác: Muối và mặn, mà
xít xao, mà dát dúa, mà nhầy nhợt nẩy mầm. Trên mây, trên mưa, lả tả phấn hương,
cộng sinh thành mây mưa. Giọt t́nh rơi xuống. Rơi xuống. Con nghêu khơi ḷng, hả
miệng, tinh khiết mùi trần.
Trời không mấy lúc đă đầy sao. Sao trên giời. Sao như vương niệm trao gửi bằng
những nụ hôn mằn mặt kết thành ṿng hoa trên đầu. Ta vào đây, giă từ quá khứ.
Chào em buổi sáng, thương em buổi chiều, thương nghêu ṣ, ốc hến, khơi mở, đón
nhận.
Mặt trăng đă tṛn, Oâm khít nửa vầng trăng thành một vầng trăng tṛn. Silence.
Silence. Silence de musique. Silence des écumes-lentilles d!eau. Silence des
chuchotements des Hai Au. Silence des murmures du vent. » Ai hăy làm thinh, chớ
nói nhiều... Chúng ta hoà vào vũ trụ càn khôn, t́m thấy cha thấy
mẹ trong mảnh
trăng mùa Vu lan. Chờ nhau nơi cuối mộng… để bắt đầu một vầng trăng cứu rỗi, tái
sinh và ta hứa « je te promets des rêves, d’un retour pour que tout renaisse.
Toi et moi sans relache » và tất cả chúng sinh, tất cả giống hữu t́nh trong t́nh
thương vô hạn…cả những « N. » như một dấu hỏi bí nhiệm c̣n ẩn tàng…và cuộc truy
lùng trở thành vô cực