Tướng Vơ Nguyên Giáp và các hải đảo

Hoàng Sa – Trường Sa

 

Trần B́nh Nam

 

Đầu tháng 12 năm 2007, khi nhà nước Việt Nam tiết lộ và lên tiếng phản đối quốc hội Trung quốc thông qua quyết nghị thành lập thành phố Tam Sa bao gồm ba quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa-Pracels), Trung Sa (Maccsfield Bank) và Nam Sa (Trường Sa-Spratly) đặt trung tâm hành chánh của thành phố tại đảo Woody trong quần đảo Hoàng Sa Trung quốc chiếm năm 1974 và thống thuộc tỉnh Hải Nam, người Việt Nam trong và ngoài nước một ḷng bày tỏ sự tức giận của ḿnh trước manh tâm lấn đất của Trung quốc.

                                             

 

Và khi nhớ lại “Lời Di Chúc” của vua Trần Nhân Tôn con dân Việt Nam không khỏi giật ḿnh trước lời cảnh giác cách đây 8 thế kỷ của vị anh quân nhà Trần về tai họa phương Bắc hôm nay đang biến thành sự thật. Vua Trần Nhân Tôn căn dặn: "Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. V́ rằng họ cho ḿnh cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, th́ gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu."

 

Theo tuần báo The Economist số ngày 15 – 21/12/2007 (1) th́ chính  phủ Trung quốc không (hoặc chưa) chính thức phổ biến quyết định này v́ ngại tạo sự xúc động đối với các nước lân bang. Tuy nhiên sự quản lư thành phố Tam Sa được Trung quốc quy định rơ ràng đặt Việt Nam trước một thực tế cần phản ứng mạnh mẽ để bảo vệ chủ quyền của quốc gia, và trước mắt là bảo vệ tính mạng của 700 quân nhân hải quân đang đồn trú tại huyện Trường Sa (gồm thị trấn Trường Sa và hai xă Sinh Tử Tây và Sinh Tồn) thuộc tỉnh Khánh Hoà, và bao gồm 29 đảo lớn nhỏ (2). Với chính sách dùng vũ lực như họ đă làm năm 1974 đối với Hoàng Sa và năm 1988 đối với Trường Sa, cái ngày Trung quốc đưa tàu chiến ra dùng sức mạnh để chiếm huyện Trường Sa của Việt Nam sẽ không c̣n xa nếu Hà Nội vẫn chỉ phản ứng bằng nước bọt một cách hèn nhát như hiện nay. Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hà Nội chỉ tuyên bố chủ quyền mà không có một động thái nào mạnh hơn để giành lại chủ quyền các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Thậm chí trước họa xâm lăng, thanh niên và sinh viên yêu nước quốc nội muốn bày tỏ sự bất măn của ḿnh trước ṭa đại sứ Trung quốc tại Hà Nội và ṭa lănh sự tại Sài g̣n cũng bị công an nhà nước đe dọa và ngăn cản. Sau hai tuần lễ (9/12 & 16/12/2007) Hà Nội để cho sinh viên biểu t́nh trong giới hạn, đến tuần thứ ba (chủ nhật 23/12/2007) họ đă  triển khai một lực lượng an ninh áp đảo để chận đứng các cuộc biểu t́nh chống Trung quốc của nhân dân.

 

Theo nhận xét của giáo sư Carl Thayer tại Úc châu th́ Hà Nội đă để cho sinh viên biểu t́nh một cách “nhỏ giọt” để nhắn gởi Trung quốc chớ nên đi quá bước trong lúc này. Nhưng theo một vài nhà quan sát khác tại Sài g̣n và Hà Nội th́ thái độ của các lực lượng an ninh cho thấy h́nh như có một sự dùng dằng chưa dứt khoát trong nội bộ đảng.

 

Sự dùng dằng này có thể do sự bất đồng ư kiến giữa những người cầm đầu công an và quân đội trong Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam trước sự lấn đất lấn đảo của Trung quốc. Sự bất đồng này nếu có cũng là điều tất nhiên, v́ quân đội mặc dù được nhồi nắn như là lực lượng vũ trang bảo vệ đảng, quân đội cũng mang trong tiềm thức ư niệm bảo vệ sự vẹn toàn lănh thổ. Cho nên sẽ không phải là một  điều ngạc nhiên nếu phe quân đội trong bộ máy lănh đạo tại Hà Nội có khuynh hướng phản ứng mạnh mẽ đối với Trung quốc (hơn là lực lượng công an) và là một điều khó khăn cho quân đội nếu được huy động đàn áp sự bày tỏ tinh thần cứu nước của nhân dân.

 

Nói đến quân đội cộng sản Việt Nam không thể không nói tới đại tướng Vơ Nguyên Giáp, mặc dù lúc này ông không c̣n là một nhân vật trong bộ máy quyền lực. Ông là người chỉ huy lực lượng vũ trang đánh thắng Pháp tại Điện Biên Phủ, buộc người Pháp phải kư Hiệp Định Geneva rút lui khỏi Việt Nam năm 1954 và trở thành một danh tướng trong quân sử thế giới, và cũng là người hoạch định kế hoạch chận đứng cuộc xâm lăng của Trung quốc qua biên giới Việt-Trung tháng 2 năm 1979.

 

Năm 1958, khi cuộc bầu cử để thống nhất đất nước theo Hiệp Định Geneva không xẩy ra, Hà Nội quyết định thôn tính miền Nam Việt Nam bằng vũ lực, đại tướng Vơ Nguyên Giáp lại một lần nữa cầm quân trong chức vụ bộ trưởng Bộ Quốc pḥng kiêm Tổng tư lệnh quân đội và tên ông lại được thế giới nhắc nhỡ qua các cuộc tổng nổi dậy Mậu Thân, cuộc bao vây cứ điểm Khe Sanh năm 1968 và chiến dịch Đông Xuân năm 1972 tấn đánh Việt Nam Cộng ḥa qua vĩ tuyến 17 bằng quân chính quy. (3).

 

Danh tiếng của tướng Vơ Nguyên Giáp đối với thế giới là cái gai của Lê Duẫn và Lê Đức Thọ nên hai nhân vật này luôn luôn mưu mô trù dập ông, nhưng khi Hồ Chí Minh c̣n sống, Duẫn và Thọ không làm được ǵ tướng Giáp.

 

Sau khi ông Hồ Chí Minh qua đời (tháng 9/1969) hành động đầu tiên của nhóm Duẫn,Thọ là khiển trách tướng Vơ Nguyên Giáp đă thất bại trong chiến dịch Đông Xuân năm 1972 và dùng đa số trong Bộ Chính trị tước chức Tư Lệnh quân đội của Giáp giao cho Văn Tiến Dũng (tuy vậy tướng Giáp vẫn c̣n vững với ghế Ủy viên Bộ Chính trị và bộ trưởng quốc pḥng). Qua đại hội 4 của đảng cuối năm 1976, tướng Giáp tụt thang từ số 5 xuống số 6 trong Bộ Chính trị. Tháng 2/1980 ông mất chức bộ trưởng quốc pḥng.

 

Và giọt nước làm đầy ly nước. Tại hội nghị Trung ương đảng tháng 12 năm 1980, tướng Vơ Nguyên Giáp đă ủng hộ quan điểm đứng giữa không thiên về Liên Xô hay Trung quốc của Trường Chinh dù Trung quốc vừa tấn công qua biên giới Việt Nam hơn một năm trước (4) chống lại chủ trương thân Liên xô và xa Trung quốc của Lê Duẫn. Lê Duẫn quyết định tước hết quyền hành và ảnh hưởng của tướng Giáp.

 

Sau đại hội 5 của đảng tháng 3 năm 1982, tướng Giáp mất ghế ủy viên Bộ Chính trị (5). Đến tháng 7 năm 1991, một tháng trước ngày sinh nhật thứ 80 của ông, tướng Giáp mất luôn ghế Ủy viên Trung ương đảng.

 

Tuy nhiên tướng Vơ Nguyên Giáp vẫn c̣n tư thế trong việc bảo vệ sự an toàn của xứ sở, nhất là trước sự lấn chiếm của người Trung Hoa. Tháng 2 năm 1979,  với chức vụ Bộ trưởng quốc pḥng, ông đă giúp tướng Văn Tiến Dũng, tư lệnh các lực lượng vũ trang tổ chức cuộc chống giữ biên giới. Tướng Vơ Nguyên Giáp đă làm nhiệm vụ động viên tinh thần binh sĩ một cách có hiệu quả góp phần không nhỏ trong việc ngăn chận quân đội Trung quốc tiến xa hơn vào đồng bằng sông Hồng.

 

Tuy hồi hưu không c̣n giữ chức vụ ǵ chính thức, tướng Vơ Nguyên Giáp đă chứng tỏ là một người vẫn thao thức đến các vấn đề trọng đại của đất nước. Những năm gần đây ông đă lên tiếng về vụ chuyên quyền trong bộ máy lănh đạo đảng (6), lên tiếng về nạn tham nhũng, và gần nhất lên tiếng bảo vệ các di tích lịch sử của thành phố Hà Nội. Trong tinh thần đó cùng với quá khứ chiến đấu chống Pháp, chống Trung quốc và tiếng tăm trên thế giới ông không thể nào không lên tiếng trước vụ Trung quốc sát nhập toàn bộ quần đảo Trường Sa.

 

Hiện nay trước quốc tế, Trung quốc nêu những bằng chứng do họ ngụy tạo để nói rằng họ có chủ quyền lịch sử về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và trong riêng tư Trung quốc viện dẫn các lời tuyên bố vô trách nhiệm của những người lănh đạo cộng sản trước đây như Thứ trưởng bộ Ngoại giao Ung Văn Khiêm (7) ,  và nhất là công hàm ngày 14/9/1958 của thủ tướng Phạm Văn Đồng theo lệnh ông Hồ Chí Minh kư công nhận lănh hải 12 hải lư theo bản tuyên bố của Trung quốc ban hành ngày 4/9/1956 (8). Trung quốc biện minh rằng công hàm đó công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung quốc v́ khoản 1 và 4 của bản tuyên bố nói rơ rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung quốc (9). Trong khi đó bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm của chính quyền Việt Nam nói công hàm 14/9/1958 kư trong thời kỳ chiến tranh với Việt Nam Cộng ḥa và không mang ư nghĩa đó (10).

 

Vào lúc ông Phạm Văn Đồng kư công hàm 1958, tướng Vơ Nguyên Giáp đang là Ủy viên thứ năm của Bộ Chính trị (trong số 12 ủy viên, đứng sau Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt và ngay trước Phạm Văn Đồng) và là một nhân vật có uy tín trong bộ máy quyền lực, chắc hẵn tướng Giáp biết rơ bối cảnh của công hàm 14/9/1958.

 

Hôm nay những nhân vật chính yếu liên quan đến công hàm 14/9/1958 đều đă qua đời trừ tướng Vơ Nguyên Giáp. V́ vậy tướng Giáp cần lên tiếng bác bỏ luận cứ của Trung quốc. Sự lên tiếng của tướng Vơ Nguyên Giáp sẽ có trọng lượng đối với thế giới và giúp chuyển cán cân trong cuộc giành lại đất đai của tổ tiên, nếu không phải lúc này th́ cũng cho thế hệ mai sau.

 

Với tuổi đă cao (11), tướng Vơ Nguyên Giáp không lên tiếng bênh vực quyền lợi quốc gia lúc này th́ không c̣n lúc nào khác. Lịch sử sẽ ghi nhận ông là một người yêu nước hay là một người cộng sản chỉ biết hiến dâng cuộc đời cho quyền lợi của đảng mà không quan tâm đến quyền lợi lâu dài của quốc gia dân tộc tùy theo sự chọn lựa của ông vào lúc này .

 

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, huống chi là một danh tướng như tướng Vơ Nguyên Giáp.

 

Chúng ta hăy chờ xem.

 

Trần B́nh Nam

Dec. 26, 2007

binhnam@sbcglobal.net

www.tranbinhnam.com

 

(1)       The Economist, “Dispute in the South China Sea: Whale and Spratlys” trang 51

(2)       Theo  bản tin BBC ngày 20/12/2007 lấy nguồn từ báo Thanh Niên trong nước và tờ Á châu Tuần san tại Hồng Kông.

(3)       Trước sự chiến đấu anh dũng của quân đội Việt Nam Cộng ḥa, tướng Vơ Nguyên Giáp đă thất bại trong cả hai cuộc tấn công, phải chờ đến khi Hoa Kỳ cắt viên trợ, quân đội cộng sản mới chiếm được miền Nam năm 1975.

(4)       Trong cuộc tấn công tháng 2/1979 kéo dài hơn một tháng này, Trung quốc nói để trả đũa vụ Việt Nam tấn công lật đổ Polpot tại Cambodia, nhưng thật ra c̣n do sự kèn cựa về chủ quyền quần đảo Trường Sa Hà Nội đang kiểm sóat một phần, trong khi Trung quốc nói ông Hồ Chí Minh đă nhường cho họ qua công hàm ngày 14/9/1958 do thủ tướng Phạm Văn Đồng kư (theo tác giả Cecil B. Currey, trong cuốn “The Genius of Viet Nam’s General Vo Nguyen Giap, trang 308)

(5)       Cùng một tài liệu “The Genius of Viet Nam’s General Vo Nguyen Giap, trang 315)

(6)       Vụ Tổng Cục 2.

(7)       Theo tài liệu "Chủ quyền tuyệt đối của Trung quốc trên quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa " của Bộ Ngoại giao Trung quốc (Beijing Review, Feb. 18, 1980), Hà Nội đă "dàn xếp" vấn đề này trong quá khứ. Họ bảo rằng: Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của Hồ Chí Minh đă tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm đă nói với Li Zhimin, Thường vụ viên của Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là một bộ phận lịch sử của lănh thổ Trung quốc".

(8)       Link http://www.tranbinam.com/binhluan/ToanDan_NgheChang.html

(9)       Công bố của chính phủ nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa về lănh hải
* Một: Lănh hải của nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lư. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lănh thổ nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các ḥn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những ḥn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những ǵ thuộc về những hải đảo của Trung quốc
* Hai: Lănh hải của Trung quốc đại lục và duyên hải của các đảo được tính theo đường thẳng nối liền những điểm mốc ven bờ làm đường biên cơ sở, th
ủy vực từ đường biên cơ sở này hướng ra ngoài 12 hải lư là lănh hải của Trung quốc. Phần nước thuộc đường biên cơ sở này hướng vào bên trong, bao gồm vịnh Bột Hải, phần trong hải vực Quỳnh Châu, đều là phần nội hải của Trung quốc. Các đảo thuộc đường biên cơ sở này hướng vào trong, bao gồm đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, đảo Mă Tổ, đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khưu, đảo Kim Môn lớn nhỏ, đảo Nhị Đảm, đảo Đông Định đều thuộc về các đảo thuộc nội hải của Trung quốc.
* Ba: Tất cả phi cơ và thuyền bè quân dụng của ngoại quốc, chưa được chính phủ nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa cho phép, không được tiến nhập vào lănh hải vào không gian trên lănh hải. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào vận hành tại lănh hải của Trung quốc, phải tôn trọng pháp lệnh hữu quan của chính phủ nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa.
* Bốn: Dựa trên nguyên tắc quy định 2, 3 áp dụng cho cả Đài Loan cùng các ḥn đảo xung quanh, những ḥn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những ǵ thuộc về những hải đảo của Trung quốc. Đài Loan và Bành Hồ địa khu hiện nay đang bị Mỹ dùng vũ lực xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn của lănh thổ nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ đợi để thu hồi, chính phủ nước cộng ḥa nhân dân Trung Hoa sử dụng tất cả những phương pháp thích đáng tại một thời điểm thích đáng để thu phục những khu vực này, đây là chuyện nội bộ của Trung quốc, không cho phép ngoại quốc can thiệp
. (DCV - Nguồn Hoa ngữ do tác giả Trần Đông Đức dịch)

(10)    Theo bài báo “Saigon - Hanoi - Paracels Islands Dispute – 1974” của Frank Ching đăng trên tờ Far Eastern Economic Review ngày Feb. 10, 1994 th́ Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đă thú nhận: "Các nhà lănh đạo của chúng tôi đă có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lănh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đă phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đă phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, t́nh hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung quốc đă là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đ̣i hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lănh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết v́ nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc . Đặc biệt thêm nữa là cái tuyên bố đó đă nhắm vào sự đ̣i hỏi cần thiết lúc bấy giờ để ngăn ngừa Hoa Kỳ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng ǵ đến nền tảng lịch sử và pháp lư trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa Và Trường Sa (tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2/12/1992, được loan tải bởi Thông Tấn Xă Việt Nam ngày 3/12/1992)"

(11)  Tướng Vơ Nguyên Giáp sinh ngày 25/6/1911, năm nay 96 tuổi.